Cuộc gặp gỡ giữa Mỹ và Việt Nam (Phần 2)

Kenneth T. Young

Trúc Lam dịch

Theo Tiengdan

Sự phụ thuộc chiến lược của châu Á

Khi nhìn vào Việt Nam, chúng ta không chỉ xem xét một đất nước bị chia cắt, rơi vào hỗn loạn và đau thương. Chúng ta đã ủng hộ một khái niệm trung tâm về sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia ở Đông Nam Á – sự phụ thuộc theo nghĩa giống như một vụ mất điện ở Ottawa có thể ảnh hưởng đến thành phố New York, rằng những gì xảy ra ở Thái Lan sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam, những gì xảy ra ở Malaysia hay Indonesia sẽ ảnh hưởng đến Philippines, và những gì xảy ra ở Philippines sẽ ảnh hưởng đến Ấn Độ và Nhật Bản, và ngược lại. Tính không thể chia cắt của Đông Nam Á và toàn châu Á đã dẫn đến điều mà Tổng thống Eisenhower, tiếc thay, gọi là “thuyết domino”.

Ẩn dụ đó đã để lại ấn tượng sai lầm. Nếu bạn hỏi một người Thái rằng liệu anh ta có tự động làm một quân cờ domino ngã xuống vì Việt Nam hay không, người Thái sẽ trả lời rằng: “Dĩ nhiên là không”. Nếu bạn hỏi một người Việt rằng, liệu chắc chắn [Việt Nam] sẽ sụp đổ như một quân domino nếu Lào sụp đổ hay không, người Việt sẽ trả lời: “Hoàn toàn không”. Thế nhưng, người châu Á cảm thấy rằng trong “thuyết domino” vẫn có phần nào sự thật. Các Tổng thống Eisenhower, Kennedy và Johnson đều đã ủng hộ thuyết này.

Tâm lý châu Á có liên quan nhiều đến vấn đề đó. Ở Đông Nam Á luôn tồn tại một kiểu tư duy “kẻ chiến thắng” – kẻ chiến thắng ấy có thể là Trung Quốc, một cường quốc nào đó, và nay là Hoa Kỳ. Các quốc gia nhỏ thường có xu hướng chọn kẻ chiến thắng – chứ không phải kẻ thua cuộc. Về ý nghĩa chính trị, luôn tồn tại một thứ bậc quyền lực và sức mạnh theo nấc thang hay tôn ti trật tự. Đây là truyền thống của người châu Á. Ngày nay họ vẫn vậy. Họ đang nhìn vào cuộc đối đầu Trung – Mỹ như một trận đấu để chọn kẻ chiến thắng.

Quyết định căn bản hồi năm 1954 về việc Mỹ can dự vào Việt Nam xuất phát từ niềm tin rằng sự rút lui và thờ ơ của Mỹ sẽ tạo ra một làn sóng chấn động tai hại khắp châu Á. “Bỏ qua Đông Nam Á và Việt Nam” sẽ tạo nên một làn sóng chấn động ở Tokyo và New Delhi, cũng như một kiểu chấn động khác ở Bắc Kinh và Moscow. Phe cộng sản sẽ tuyên bố: “Người Mỹ thật sự không có ý định làm những gì họ nói. Chúng ta có thể làm như mình muốn”. Người châu Á độc lập đã lo lắng vào năm 1954 và 1955 cũng giống như họ đang lo lắng ngày nay. Điều sống còn đối với Tổng thống Eisenhower khi ấy – cũng như đối với Tổng thống Johnson hiện nay – là không để loại chấn động đó xảy ra ở châu Á, đặc biệt là ở Bắc Kinh và Moscow.

Năm 1954, một nỗi sợ mang tính định mệnh về sự nuốt chửng từ Trung Quốc – mối đe doạ đang rình rập – đã bao trùm châu Á. Đây là một nỗi sợ tâm lý đã kéo dài qua nhiều thế kỷ. Trung Quốc định kỳ đóng vai trò thống trị ở châu Á, và ngày nay lại đang tìm kiếm vai trò đó một lần nữa. Sự ngờ vực và ác cảm của người châu Á đối với Trung Quốc cộng sản hiếu chiến, thù địch ngày nay còn mạnh mẽ hơn so với mười một năm trước.

Nguồn gốc của chính sách Mỹ đã tính đến nỗi sợ này. Nỗi sợ đó có thể làm xói mòn châu Á và làm suy yếu châu Âu. Ở Washington có một nhận thức rằng, châu Á và châu Âu có mối liên hệ với nhau. Châu Á càng vững chắc thì an ninh của cộng đồng Đại Tây Dương càng mạnh mẽ. Sự ổn định của châu Á có thể thay đổi triển vọng và động cơ của giới lãnh đạo Trung Quốc. Nếu Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam trở thành những xã hội tiến bộ, ổn định, được quản trị tốt, lành mạnh và miễn nhiễm với sự phá hoại, nếu Trung Quốc không thể bắt nạt họ – nói cách khác, nếu có sự cố kết và vững chắc chính trị trong nội bộ châu Á – thì người Trung Quốc, vốn thực dụng dù cho hệ tư tưởng của họ là gì đi nữa, sẽ buộc phải chấp nhận chung sống hoà bình với thế giới trong một đại gia đình các quốc gia châu Á. Họ sẽ bị ép buộc phải gác bỏ quan niệm lỗi thời, phản động về một “châu Á của Trung Quốc” và chấp nhận một “Trung Quốc của châu Á”.

Việt Nam đóng một vai trò then chốt trong sự phụ thuộc lẫn nhau và sự vững chắc của châu Á. Bi kịch thay, chính dân tộc Việt Nam lại bị lịch sử và địa lý đặt vào vị trí then chốt này, nằm giữa Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc. Và sự tình cờ đó lại là sự kết hợp giữa yếu tố văn hóa, địa lý và chính trị đã hội tụ ở Việt Nam. Người Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài và khắc nghiệt với Trung Quốc. Họ sở hữu sức sống mạnh mẽ và năng lượng dồi dào. Trong suốt 2000 năm, họ đã chứng minh sức sống của tự do và độc lập theo cách của riêng mình. Cuộc đối đầu giữa phương Tây với châu Á và Trung Quốc đã đi đến điểm tác động này ở Việt Nam – bản lề của số phận.

Chính sách “nam châm” về cải cách và an ninh

Câu hỏi đặt ra cho chúng ta vào tháng 9 và tháng 10 năm 1954 thật khó trả lời: Chúng ta phải làm gì để áp dụng khái niệm chiến lược đó? Sau nhiều phân tích và cân nhắc, chúng ta phát triển ý tưởng đứng sau chủ nghĩa dân tộc gắn với cải cách để tạo ra điều mà đôi khi chúng ta gọi là “nam châm của Việt Nam”.

Chúng ta, những người Mỹ còn non kinh nghiệm, ngây thơ và lạc quan về Việt Nam, không chỉ muốn đạt được một sự ngừng bắn mong manh mà còn muốn tạo ra những điều kiện để ngăn chặn một cuộc va chạm lớn có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh lớn. Nếu Việt Nam là điểm va chạm của cuộc đối đầu với Bắc Kinh và Hà Nội, thì làm thế nào để giảm leo thang về quân sự và tháo ngòi nổ về chính trị? Có lẽ cái nam châm của cải cách dân tộc chủ nghĩa có thể là cách cân bằng thế đối đầu giữa miền Bắc và miền Nam, đồng thời xác lập điều kiện giao tranh với ý thức hệ và tổ chức cộng sản.

Việc tái thiết một nước Việt Nam dân tộc chủ nghĩa trong khuôn khổ truyền thống văn hóa của nó nhưng với các thể chế hiện đại về hành chính và công nghệ có thể tạo ra một trạng thái cân bằng mới cho quốc gia cổ xưa ấy, đồng thời trở thành hình mẫu phát triển cho cả nông thôn và đô thị ở Đông Nam Á.

Khi ấy, chúng ta biết rất ít về Việt Nam. Ngoài những nghiên cứu của người Pháp, chúng ta hầu như chỉ có sự thực dụng của riêng mình để vượt ra khỏi “sự mù quáng tổ tiên” về châu Á. Có vẻ như chúng ta phải đối diện với mô thức Nho giáo trong xã hội, hành vi và tư tưởng ở Việt Nam. Chúng ta muốn thúc đẩy sự thay đổi có trật tự – từ hỗn loạn đến quốc gia. Lúc đó, chúng ta cũng cảm thấy rằng nông dân Việt Nam, mặc dù chúng ta biết rất ít về họ, chính là yếu tố then chốt trong tiến trình này. Họ mong muốn cải cách ruộng đất, công bằng xã hội và an ninh.

Và vì vậy, chúng ta tìm kiếm ba công cụ làm nền tảng cho chính sách nam châm trong sự can dự của Hoa Kỳ – một nhà lãnh đạo, cải cách nông thôn, và một quân đội quốc gia. Trước hết phải tìm được một nhà lãnh đạo cùng với một chính phủ mới để thiết lập một hướng đi mới của cải cách dân tộc chủ nghĩa theo một mô thức phù hợp với một xã hội Nho giáo và triết lý Nho giáo.

Năm 1954, sau khi đánh bại người Pháp, Hồ Chí Minh rõ ràng là người nổi tiếng nhất ở Việt Nam. Và như Tổng thống Eisenhower đã viết (và thường bị trích dẫn sai), Hồ có thể đã thắng trong một cuộc bầu cử trước Bảo Đại trong thời kỳ chiến tranh đó. Người dân miền Nam Việt Nam mong muốn một nhà lãnh đạo mới, một người mang tinh thần dân tộc không thể nghi ngờ – không phải Bảo Đại, nhưng cũng không nhất thiết phải là Hồ.

Nhưng bên cạnh một nhà lãnh đạo, yếu tố quan trọng không kém chính là người dân ở quốc gia nông thôn này – những nông dân gần như không có đất riêng và hầu như chẳng còn trường học nào. Điều đó có nghĩa là cải cách ruộng đất, tái định cư cho người tị nạn, tín dụng nông thôn, giáo dục và toàn bộ nỗ lực tái thiết xã hội nông thôn hay nền kinh tế nông thôn của Việt Nam là điều cần thiết. Đó là yếu tố thứ hai trong sự ủng hộ của Hoa Kỳ năm 1954 đối với chủ nghĩa dân tộc gắn với cải cách, thậm chí là cách mạng, ở miền Nam Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay cả với một nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa và cải cách dân tộc chủ nghĩa, làm sao đất nước có thể tồn tại trên tuyến đầu đầy nguy hiểm và đe doạ như vậy? Vào tháng 8 năm 1954, miền Bắc Việt Nam có sáu sư đoàn thiện chiến, dày dạn kinh nghiệm. Miền Nam thì hoàn toàn không có gì. Theo tình báo, sức mạnh quân sự ở miền Bắc khi đó đang gia tăng nhanh chóng. Trong vòng hai năm, số sư đoàn đã tăng gấp ba. Có khá nhiều hoạt động lật đổ diễn ra ở Lào và một số ở Thái Lan. Có lẽ “nam châm” này có thể thu hút sự chú ý sai lầm từ Bắc xuống Nam – không phải là cùng tồn tại chính trị hay cạnh tranh kinh tế, mà là sự lật đổ và xâm lược về quân sự.

Ông Kenneth T. Young (trái) và con trai ông Stephen B. Young (phải) và ông quận trưởng quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh chụp năm 1970. Nguồn: Ảnh tư liệu gia đình của GS Stephen B. Young gửi Tiếng Dân

Vở kịch Ngô Đình Diệm

Dĩ nhiên, điều này đã dẫn đến vấn đề lớn nhất đối với Hoa Kỳ ở Việt Nam: Cuộc tìm kiếm một nhà lãnh đạo và sự chấp nhận Ngô Đình Diệm. Thật ra, ông là kết quả của sự tình cờ hơn là sự lựa chọn. Ông là người duy nhất sẵn có và đủ điều kiện để làm một nhà dân tộc chủ nghĩa. Không hề có “âm mưu” nào của giới Công giáo Mỹ, như một số người đã ngây ngô cáo buộc, nhằm áp đặt ông lên Việt Nam. Không một nhà hoạch định chính sách chủ chốt nào ở Washington từng biết ông một cách cá nhân trước mùa thu quan trọng năm 1954. Ông được người Pháp bổ nhiệm làm Thủ tướng vào tháng 6 năm 1954, chỉ để trở thành vật tế thần trong vài tháng. Họ không hề có ý định để ông tồn tại lâu dài hay được ủng hộ như một nhà lãnh đạo dân tộc.

Nhưng đến mùa thu năm 1954, câu hỏi quyết định của chúng ta là: Có nên tiếp tục với Diệm hay rời bỏ Việt Nam? Theo những gì chúng ta có thể biết được rằng Ngô Đình Diệm luôn được tôn trọng ở Việt Nam như một nhà dân tộc chủ nghĩa chân chính, một con người trung thực và liêm khiết, tận tuỵ với người dân của mình, am hiểu đất nước mình nhờ chính kinh nghiệm bản thân, theo cách mà rất ít người Việt Nam cùng thế hệ có được. Theo các ghi chép, ông là một người chưa bao giờ thỏa hiệp với thực dân Pháp về độc lập dân tộc, cũng như không thỏa hiệp với “chuyên chính vô sản” của cộng sản. Hồ Chí Minh, dường như, luôn tôn trọng Ngô Đình Diệm vì sự liêm chính, mặc dù hai người bất đồng trên rất nhiều nguyên tắc.

Diệm là người quốc gia duy nhất còn lại ở Việt Nam vào năm 1954 dường như có đủ tố chất để thực hiện một chương trình cải cách dân tộc ở miền Nam Việt Nam. Chính phủ Hoa Kỳ – Tổng thống, Ngoại trưởng, lãnh đạo Thượng viện – đã quyết định rằng, Hoa Kỳ nên ủng hộ Ngô Đình Diệm, mặc dù rõ ràng ông không phải là con người hoàn hảo. Ông có những khiếm khuyết. Những nhà lãnh đạo dân tộc khác có thể đã xuất hiện ở Việt Nam nếu họ không bị loại bỏ trong cái “cối xay thịt” chính trị của hai chế độ độc tài – thực dân và cộng sản.

Nhưng chúng ta buộc phải bắt đầu từ một điểm nào đó. Và khởi đầu của chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam thật sự là bắt đầu với Diệm. Đây không phải là công việc dễ dàng. Ông khó gần – đa nghi, giáo điều và khép kín. Ông độc chiếm các cuộc đối thoại và cá nhân hóa quyền lực của mình như một quan lại Nho giáo. Có lẽ chúng ta đã không nên bỏ qua một số khuyết điểm trong tính cách của ông – sự khép kín và tính kiêu hãnh của gia đình họ Ngô. Là người Mỹ vốn quen với sự tách biệt tuyệt đối giữa Giáo hội và Nhà nước, chúng ta đã không nhận thức đầy đủ về sự đa dạng và vai trò của tôn giáo ở Việt Nam. Có lẽ việc một lãnh đạo Công giáo đứng đầu một quốc gia Nho – Phật giáo là một nghịch lý, mà cuối cùng chỉ có thể dẫn đến thất bại hoàn toàn.

Cuộc đối đầu đầu tiên với người Pháp

Tuy nhiên, vấn đề chính của chúng ta trong những năm 1954–1955 không phải là Diệm, mà là người Pháp. Gần một năm trôi qua trước khi chúng ta thành công trong việc đàm phán ít nhất một thỏa thuận trên giấy tờ về chính sách “nam châm”, mà các yếu tố chính là Diệm, cải cách và an ninh.

Năm 1954, người Mỹ và người Pháp đã áp dụng những cách tiếp cận và phong cách hoàn toàn khác nhau ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi coi Sài Gòn như một “nam châm hút Hà Nội”. Người Pháp lại coi Sài Gòn như một “cây cầu nối với Hà Nội” để bảo vệ các lợi ích văn hóa và kinh tế của Pháp ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, đồng thời hướng tới một sự thỏa hiệp với Đảng Cộng sản ở Hà Nội, để cho cuộc bầu cử theo thỏa thuận Geneva – “cuộc mặc cả” tại Geneva – được tiến hành đúng lịch. Một cây cầu từ Sài Gòn sẽ làm trơn tru việc chuyển giao miền Nam vào tay miền Bắc.

Cuộc họp đầu tiên với người Pháp được tổ chức vào tháng 9 năm 1954.
Chúng tôi chỉ đạt được thỏa thuận sau ba ngày thảo luận căng thẳng, sau khi đã tham khảo ý kiến Thượng nghị sĩ Mansfield, lúc đó đang có mặt ở Berlin, liên quan đến quyết định ủng hộ Diệm một cách độc lập khi phái đoàn Pháp tỏ ra ngoan cố. Ông được hỏi thực chất rằng, liệu Hoa Kỳ có nên tiếp tục viện trợ cho Việt Nam nếu Ngô Đình Diệm không còn là Thủ tướng, hoặc bị người Pháp loại bỏ hay không.

Thượng nghị sĩ Mansfield nhấn mạnh rằng, Thủ tướng Diệm là một người quốc gia trung thực, liêm khiết và tận tâm, và tuyên bố rằng nếu ông bị ép buộc phải từ chức hoặc bị bỏ rơi thì hậu quả ở Việt Nam có thể sẽ vô cùng thảm khốc; Quốc hội Hoa Kỳ có thể sẽ ngừng ủng hộ viện trợ cho Đông Dương. Người Pháp đã bị sốc.

Vấn đề về Diệm tưởng chừng như đã được giải quyết. Ngày 29 tháng 9 năm 1954, chúng tôi đưa ra một thông cáo chung, ủng hộ Diệm và thiết lập cơ chế hợp tác viện trợ Pháp – Mỹ cho Việt Nam. Sự can dự trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam thật sự bắt đầu từ ngày hôm đó. Người Pháp khẩn thiết muốn chúng tôi gia tăng viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam, nhưng đồng thời họ vẫn muốn giữ quyền kiểm soát chính trị tại đó.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Pháp đã không thực hiện những thỏa thuận đạt được ở Washington. Ở Sài Gòn, ông ta bắt đầu tìm kiếm một người để thay thế Ngô Đình Diệm. Hành động đó đã gây ra những cuộc tranh luận gay gắt về việc liệu chúng tôi có nên hoàn toàn tách mình khỏi người Pháp trong vấn đề Đông Dương, và không còn bất kỳ mối quan hệ nào với họ trong việc thực hiện những gì mà chúng tôi tin là cần thiết để thúc đẩy chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ, phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ.

Cuối cùng, quyết định được đưa ra là sẽ hợp tác với người Pháp nếu có thể, nhưng chỉ trong khuôn khổ đường lối mà chúng tôi đã thống nhất với nhau tại cuộc họp tháng 9. Nếu thỏa thuận đó bị phá vỡ, chúng tôi quyết định sẽ đơn phương hành động, hoặc rút lui hoàn toàn.

(Còn tiếp)

_____

Bài liên quan:

Phần 1