Vượt Thái Lan, Việt Nam xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới: Nông dân vẫn nghèo, vẫn khổ

Dân Trần

Theo VNTB

Nông dân Việt Nam chẳng khác nào công nhân trồng lúa cho thương lái hưởng lợi, mà nông dân còn không được trả lương, thưởng, bảo hiểm như công nhân nữa!

Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái Lan, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới trong 6 tháng đầu năm 2025. Cụ thể, Ấn Độ xuất khẩu 11,68 triệu tấn gạo, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Tiếp đó là Việt Nam với 4,72 triệu tấn, tăng 3,5%. Thái Lan đứng thứ ba với tổng lượng xuất khẩu là 3,73 triệu tấn, giảm 27,3%. Số liệu của Thái Lan công bố có phần khác với số liệu Việt Nam công bố, phía Việt Nam công bố 6 tháng đầu năm Việt Nam xuất khẩu 4,9 triệu tấn gạo.

Tuy vượt Thái Lan về số lượng xuất khẩu, nhưng về tiền thì người Thái thu về cao hơn phía Việt Nam. Theo Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái Lan, Charoen Laothamatas, giá trị xuất khẩu gạo Thái Lan trong 6 tháng đầu năm nay ước đạt 75,57 tỷ baht (hơn 2,3 tỷ USD) khi bán ra 3,73 triệu tấn. Còn theo Bộ Nông Nghiệp và Môi Trường Việt Nam, Việt Nam thu về 2,54 tỷ USD khi bán ra 4,9 triệu tấn gạo. Như vậy dù bán cao hơn Thái Lan tới 1,17 triệu tấn gạo nhưng Việt Nam chỉ thu về nhiều hơn Thái chỉ 240 triệu USD.

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ở mức 517,5 USD mỗi tấn. Còn giá gạo Thái Lan bình quân tới 620 USD mỗi tấn. Thị trường xuất khẩu gạo chính của Thái Lan là Iraq, Mỹ, Trung Quốc và Châu Phi. Còn thị trường xuất khẩu chính của gạo Việt Nam là Philippines (42,6%), Trung Quốc và Châu Phi.

Như vậy có thể thấy hai chuyện. Một là chất lượng gạo Việt Nam không bằng Thái Lan để xuất khẩu vào các thị trường khó tính nhằm bán được giá cao. Hai là Việt Nam chỉ coi trọng số lượng mà không cần chất lượng, miễn là bán được nhiều chứ không cần bán được giá.

Trong nhiều năm, cơ chế thu mua lúa gạo của Việt Nam phụ thuộc gần như hoàn toàn vào hệ thống thương lái. Thương lái quyết định giá, quyết định thời điểm thu mua, và nông dân gần như không có tiếng nói. Đặc biệt vào mùa thu hoạch rộ, thương lái thường đồng loạt hạ giá với lý do “dư cung”, khiến nông dân buộc phải bán tháo vì không có kho dự trữ hay cơ chế bảo đảm giá sàn.

Nhà nước, thay vì can thiệp để bảo vệ nông dân, lại tiếp tay cho các doanh nghiệp ép giá người dân. Thế là doanh nghiệp xuất khẩu và thương lái lại được hưởng lợi lớn từ chênh lệch giá và ưu đãi chính sách. Thế là, giá lúa thu mua tại ruộng thường thấp đến mức chỉ đủ bù chi phí, thậm chí lỗ nếu vụ mùa thất bát. Trong khi đó, chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, giống chất lượng và nhân công đều tăng mạnh. Nhiều hộ gia đình phải vay nợ để duy trì sản xuất, và kết quả là “lấy công làm lãi”, thậm chí không đủ tiền nuôi con học hành.

Có thể nói nông dân Việt Nam chẳng khác nào công nhân trồng lúa cho thương lái hưởng lợi. Mà nông dân cũng chẳng được trả lương, thưởng, bảo hiểm như công nhân nữa! Với thu nhập thấp, cuộc sống bấp bênh và thiếu bảo đảm xã hội, nhiều nông dân đã lựa chọn bỏ ruộng, rời quê ra thành phố làm công nhân, giúp việc hoặc đi xuất khẩu lao động. Ở nhiều vùng nông thôn, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất cả nước, tình trạng ruộng bỏ hoang, ruộng đất chuyển đổi mục đích sử dụng đang gia tăng.

Việc người trẻ không còn mặn mà với nghề nông dẫn đến lực lượng lao động trong nông nghiệp bị già hóa, thiếu người kế nghiệp. Kết hợp với bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và hạn hán ngày càng gay gắt, nguy cơ giảm sản lượng lúa là hoàn toàn có thật. Khi đó, giá gạo nội địa sẽ tăng mạnh, người tiêu dùng chịu thiệt, trong khi nông dân vẫn không được hưởng lợi vì đã bỏ nghề hoặc mất khả năng sản xuất quy mô lớn. Đó chính là kịch bản rõ ràng cho một tương lai khủng hoảng lương thực ngay trên “vựa lúa” của thế giới.

Bình luận về bài viết này