Đặng Đình Mạnh
Theo Nguoi-viet
Sau cuộc xung đột ngắn ngủi xảy ra tại vùng biên giới Thái Lan và Cambodia vào hạ tuần Tháng Năm 2025, Thủ tướng Thái Lan, bà Paetongtarn Shinawatra tuyên bố nhấn mạnh: “Thái Lan coi trọng hòa bình nhưng sẽ không bao giờ hèn nhát khi phải chiến đấu”, theo báo Bangkok Post. Vẫn theo lời bà: “Chúng tôi đã chuẩn bị để đảm bảo an toàn cho tất cả công dân Thái Lan… Nếu xảy ra xung đột, chúng tôi sẵn sàng ứng phó”.
Tuy là nữ giới, thường bị cho là phái yếu, nhưng khi cần thiết và đứng trước khả năng đất nước bị xâm phạm, nữ Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra đã thể hiện sự mạnh mẽ, cương quyết và dứt khoát không thua gì các nam giới trong vai trò lãnh đạo đất nước.

Cho thấy, khi hiểm họa ngoại xâm cận kề, bản lĩnh của người lãnh đạo quốc gia không chỉ là la bàn định hướng cho vận mệnh dân tộc mà còn là ngọn lửa nhóm lên tinh thần quật cường trong lòng mỗi người dân trong nước. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh hùng hồn điều đó. Từ thuở hồng hoang dựng nước và giữ nước cho đến những trang sử bi tráng đấu tranh chống ngoại bang.
Tuy nhiên, nhìn vào giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, nhiều người dân Việt Nam không khỏi đặt ra câu hỏi về bản lĩnh của giới lãnh đạo đương thời, đặc biệt khi so sánh với khí phách anh hùng của tiền nhân, của cả nữ Thủ tướng lân bang.
Khí phách phụ nữ Việt và tục ngữ “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”
Lịch sử Việt Nam tự hào ghi dấu những trang sử vàng son về tinh thần quật cường chống ngoại xâm, mà trong đó, hình ảnh những nữ anh hùng đã trở thành biểu tượng bất diệt. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa vào năm 40 SCN, đánh đuổi quân Hán, giành lại độc lập cho dân tộc. Gần hai thế kỷ sau, vào năm 248 SCN, Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) lại tiếp nối truyền thống đầy hãnh diện ấy, kiên cường chống lại ách đô hộ của nhà Ngô.
Những cuộc khởi nghĩa này không chỉ thể hiện ý chí độc lập mãnh liệt của người Việt mà còn khắc sâu vào tâm thức dân tộc câu tục ngữ đầy tự hào: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho tinh thần không lùi bước, dù là nữ giới, trước hiểm họa ngoại bang xâm lược.
Trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, điểm chung xuyên suốt là sự kiên quyết, dứt khoát của những người con đất Việt khi đối mặt với kẻ thù. Họ không ngần ngại đứng lên, cầm vũ khí bảo vệ từng tấc đất, kể cả sẵn sàng hy sinh để giữ gìn đất nước.
Đối diện hiểm nguy: “Ngồi đây được không?” hay “Đời con cháu đòi lại”?
Đối lập với tinh thần quật cường trong lịch sử, những phát biểu của một số lãnh đạo Việt Nam đương thời khi đối diện với các vấn đề chủ quyền đã khiến nhiều người dân không khỏi băn khoăn và thất vọng.
Vào thời điểm căng thẳng trên Biển Đông dâng cao, khi Trung Quốc ngang nhiên kéo giàn khoan và tàu thuyền vào vùng biển Việt Nam, câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu chính đảng đang nắm giữ vận mệnh dân tộc: “Nếu xảy ra đụng độ trên biển ta có thể còn ngồi đây được không?” đã gây ra một làn sóng phẫn nộ và thất vọng tràn lan trong công chúng.
Phát biểu này, dù có cố gắng giải thích thế nào đi nữa, cũng chỉ đều phản ánh một ý nghĩa chung là sự đớn hèn của quan chức lãnh đạo Cộng Sản, chỉ chăm lo cho sự an nguy bản thân chứ không quan tâm gì đến vận mạng dân tộc.
Tương tự vậy, vào ngày 17 Tháng Năm 2014, phát biểu tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học Việt Nam, ông Vũ Đức Đam, cựu Phó Thủ tướng Chính phủ nhắc về chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa đã nói “Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại”.
Còn nhớ, trong lịch sử dân tộc, khi mỗi thời bị giặc ngoại bang xâm phạm lãnh thổ, chủ quyền, thì ông cha ta trong thời ấy đã dứt khoát đánh đuổi giặc, giành lại lãnh thổ, chủ quyền một cách sòng phẳng. Chỉ đến thời Cộng Sản mới đưa ra quan điểm đẩy đưa gánh nặng từ lịch sử và trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ cho các thế hệ tương lai, như: “đời con cháu sẽ tiếp tục đòi lại”.
Soi chiếu từ lân bang: Bản lĩnh và cương quyết
Để thấy rõ hơn sự khác biệt trong tư duy lãnh đạo, chúng ta có thể nhìn sang ví dụ về nữ Thủ tướng Thái Lan Paetongtarn Shinawatra khi đối mặt với cuộc đụng độ biên giới với Cambodia, mặc dù là nữ nhi, bà vẫn thể hiện một lập trường vô cùng bản lĩnh và cương quyết.
Qua phát biểu của nữ Thủ tướng, một mặt bà khẳng định mong muốn hòa bình, mặt khác, bà còn thể hiện sự sẵn sàng đối đầu và bảo vệ chủ quyền quốc gia một cách kiên quyết, không nhượng bộ. Điều này khác biệt rõ rệt với thái độ đớn hèn, né tránh trách nhiệm của số lãnh đạo là nam giới trong đảng Cộng Sản cầm quyền tại Việt Nam khi đề cập đến các vấn đề chủ quyền trước Trung Cộng.

Sự tương phản này càng làm nổi bật thông điệp cốt lõi: Khi quốc gia đứng trước hiểm họa, bản lĩnh của người lãnh đạo phải thể hiện ở sự quyết đoán, không lùi bước và sẵn sàng đấu tranh đến cùng để bảo vệ lợi ích quốc gia, thay vì đùn đẩy trách nhiệm cho thế hệ mai sau hay cam chịu nhục nhã.
Gánh nặng lịch sử và lời cảnh báo từ Churchill
Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, dù trong hoàn cảnh nào, khi bị xâm lược hoặc đô hộ, dân tộc Việt Nam luôn kiên cường đứng lên đòi lại độc lập và lãnh thổ một cách sòng phẳng, dứt khoát. Từ các cuộc chiến chống giặc phương Bắc, tinh thần ấy luôn bùng cháy mạnh mẽ. Điều này hoàn toàn đối lập với quan điểm thờ ơ, bàng quan, cúi đầu, rụt cổ, để lại món nợ nhục nhã về mất hải đảo cho con cháu trong tư duy các lãnh đạo hiện tại.
Nhiều người ắt còn nhớ lời cảnh báo của Thủ tướng Anh Winston Churchill khi còn sinh thời: “Một chính quyền mà né tránh chiến tranh bằng cách chịu nhục, thì chính quyền ấy sẽ phải lãnh đủ cả hai thứ, cả chiến tranh và sự nhục nhã!”. Ông Churchill đã mất từ năm 1965, nhưng lời cảnh báo của ông vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, điều mà mọi nhà lãnh đạo đều phải khắc cốt ghi tâm.