Từ câu chuyện ông Võ Văn Kiệt cứu đói cho Sài Gòn đến khát vọng lãnh tụ (Bài 2)

Phạm Phú Thép

Theo Tiengdan

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm và làm việc tại Ba Đồn. Nguồn: Internet

1. Cứu đói cho Sài Gòn

Khi đất nước lâm nguy trước những thử thách thì thường xuất hiện anh hùng lãnh tụ. Đó là điều tất yếu của lịch sử. Dân luôn khao khát lãnh tụ để cứu nước cứu dân.

Năm 1976, Sài Gòn đói, đói kinh khủng bởi ta áp dụng chính sách sai, đưa nền kinh tế miền Bắc vào thay thế nền kinh tế cũ của Sài Gòn, khiến cho miền Bắc đã đói, giờ lại thêm miền Nam đói nữa. Cả nước đói trầm trọng. Đáng lý ta làm ngược lại, duy trì nền kinh tế miền Nam, đẩy nó phát triển và dần thay thế nền kinh tế kế hoạch hóa của miền Bắc. Nhưng ta không làm như thế. Và cả đất nước chìm trong cái ĐÓI, bao nhân tài trí thức rũ áo ra đi. Và rồi xuất hiện ông Võ Văn Kiệt, ông lên làm Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh và chính ông là người làm nên công cuộc đổi mới của đất nước.

– Việc đầu tiên là ông giải quyết cái đói, lúa ở đồng bằng Sông Cửu Long chín đầy đồng mà Sài Gòn đói là điều rất vô lý, sự bế quan tỏa cảng đã làm nên điều đó. Ông lệnh cho bà Ba Thi phải xuống đồng bằng Cửu Long mua gạo theo giá thị trường nghĩa là gấp 5 hoặc 6 lần giá nhà nước thu mua. Ông bảo bà Ba Thi, cứ làm nếu Ba Thi vào tù, Bí thư Kiệt sẽ đưa cơm. Và bà Ba Thi đã về Cửu Long mua gạo, thóc, dùng xe quân sự hộ tống để qua các điểm gác của các tỉnh. Nhờ cách làm táo bạo của ông mà Sài Gòn thoát cơn đói.

– Ông tên là Sáu Dân, đúng ông luôn vì dân. Giới trí thức Sài Gòn kính nể vì ông có bộ lọc rất tốt. Ông nghe nhiều ý kiến thuận chiều và trái chiều nhưng qua bộ lọc của ông ông sẽ thực hiện những ý kiến tốt nhất. Dân trí thức cứ tụ dần xung quanh ông bởi ông luôn cháy hết mình một khát vọng duy nhất là vì dân và đổi mới đất nước. Các trí thức Sài Gòn ví ông là chiếc xe tăng để làm bức tường thành bảo vệ những tư duy kinh tế mới. Ông luôn nói với cán bộ rằng, các anh có hai sự lựa chọn, giữ được chức mà dân đói hay mất chức mà dân no.

Tư tưởng của ông là tư tưởng xé rào, vượt rào làm những gì có lợi cho dân, trọng người tài, bảo vệ người tài.

– Khi ổn định cái đói thì ông Kiệt tập trung vào phát triển kinh tế. Thời ấy có câu vè Hà Nội có Lương mà không Lương, Sài Gòn có Kiệt mà không Kiệt. Ông triệu tập các nhà kinh tế, các ông chủ xí nghiệp lại, nghe ông Kiệt triệu tập ai cũng đến. Họ yêu cầu ông rằng, nếu phát triển lại sản xuất ông Kiệt không chỉ lo vốn và nguyên liệu mà phải cho họ toàn quyền quyết định công việc không có sự can thiệp của người khác. Thời ấy, bộ đội về là được giao phụ trách nhà máy, họ không biết kinh tế, quản lý họ chỉ biết đánh giặc nên họ trở thành lực lượng công thần duy ý chí trong sản xuất. Và ông Kiệt đã đồng ý.

2. Khát vọng lãnh tụ

Tích xưa, bí quyết dùng người của Lưu Bang chỉ gói gọn trong 5 chữ: “Nhất nhân thiên hạ Trị” (trị thiên hạ chỉ một người): Trị một nước, cần một người. Giữ một thành, cần một người. Quân một đạo, cần một người. Quan một ngạch, cần một người. Tìm được người, dùng đúng người thì thành; Không tìm được người, không dùng đúng người thì bại. Mỗi việc cần một người, đã tìm được người thì quyết dùng, và đã dùng là rất tin.

“Người cầm đầu như lông cánh của con chim. Con chim bay nhờ có lông cánh. Còn lông bụng và lông lưng có nhiều đến mấy cũng không phải để bay”, Lưu Bang nói như vậy.

Công thần dũng tướng của Lưu Bang đến từ bốn phương, tám hướng, và thuộc nhiều thành phần khác nhau nhưng Lưu Bang không phân biệt sang hèn, miễn là người hiền tài thì đều được trọng dụng. Trương Lương xuất thân từ quý tộc bị phá sản, Chu Bột là người mổ lợn, Quán Anh là tay buôn vải, Hàn Tín là kẻ lang thang, Lịch Thực là học trò nghèo, Bành Việt là tướng cướp… Tất cả những người ấy, mỗi người đều có một cái tài riêng, và đều được Lưu Bang đặt vào đúng chỗ cả.

Đó là quan điểm đề cao vai trò cá nhân, khác hẳn trách nhiệm tập thể mà chúng ta đã từng biết, từng thực thi và giờ đây vẫn là một ngáng trở trong công cuộc đổi mới. Nói “Trách nhiệm thuộc về chúng tôi” tức là không có ai phải chịu trách nhiệm cả.

[Phạm Phú] Thép đọc đi đọc lại cuốn sách, Võ Văn Kiệt trăm năm trong một chữ Dân thấy dấu ấn cá nhân của Thủ tướng Võ Văn Kiệt rất đậm nét. Ông không câu nệ dùng người tài, ai tài là ông dùng cho dù có người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Thậm chí ông còn mời cả nguyên Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu sang giúp mình. Đại sứ Lê Hồng Lam kể, ông Kiệt hay nói, bất cứ ai (Việt Kiều) thật tâm muốn đóng góp xây dựng đất nước không nhất thiết phải tán thành chủ nghĩa xã hội. Thông điệp đó là sự hòa hợp, hòa giải dân tộc, như một sự cởi trói trong tư duy ngoại giao. Nếu ta hòa giải được với cựu thù, chơi được với những nước có chính thể khác ta, thì tại sao ta không hòa hợp với chính đồng bào của mình. Từ chính sách hòa giải đó mà sự đại đoàn kết với Việt kiều đã trở thành không thể đảo ngược. Cộng đồng người Việt kiều trở thành một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam.

Ông Kiệt rất lắng nghe ý kiến của người tài, của những người trong tổ tư vấn của ông nhưng khi quyết định là trách nhiệm cá nhân ông. Khi đã nghe và được thuyết phục là ông quyết định ngay. Khi đã quyết là không còn bàn lùi mà tập trung giải quyết vấn đề. Ông Nguyễn Ngọc Trân nguyên Phó ban đối ngoại quốc hội nói, dù ai cũng thấy chuyện lắng nghe là đương nhiên, nhưng mà từ chuyện lắng nghe, muốn nghe và cần nghe đi đến quyết định thì phải có bản lĩnh.

Đó là bản lĩnh cá nhân, tinh chất của người lãnh đạo.

Phải có lãnh tụ vì dân, trong giai đoạn đất nước khó khăn sẽ xuất hiện lãnh tụ để làm đổi thay đất nước. Họ là nơi tập trung sự đoàn kết, ủng hộ những tư tưởng xé rào sáng tạo để đất nước vượt qua thử thách tiến về phía trước.

Người dân luôn khát vọng sự xuất hiện lãnh tụ.

_____

Bài liên quan:

Bài 1

2 bình luận

Bình luận về bài viết này