Thuế lá chuối, thuế lá dừa, thuế dây lạt, thuế đậu hũ….

Dân Trần

Theo VNTB

Lá chuối, lá dừa, lá dong, dây lạt gói bánh, làm nem, làm bánh tét, bánh chưng… cũng phải kê khai thuế

 Một trong những câu chuyện khiến người dân lo lắng trong thời gian gần đây là việc những nguyên vật liệu sản xuất rất nhỏ lẻ, quen thuộc trong đời sống hằng ngày như lá chuối, lá dong, dây lạt… nay cũng được yêu cầu phải lập bảng kê, có chứng từ thanh toán chuyển khoản và xác nhận giao dịch thì mới đủ căn cứ để tính doanh thu, chi phí và kê khai thuế. Theo giải thích từ phía cơ quan chức năng, các chi phí mua nguyên liệu phải được xác định dựa trên bảng kê, làm cơ sở tính chênh lệch giữa giá mua và giá bán, từ đó xác định thuế đầu ra, đầu vào cho đúng quy định pháp luật.

 Trên lý thuyết, đây có thể là một cách quản lý nhằm minh bạch hóa hoạt động kinh doanh, chống thất thu thuế. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế đời sống của hàng triệu tiểu thương và hộ kinh doanh nhỏ lẻ, quy định này vô cùng bất cập và phi thực tế.

 Trước hết, cần nhìn thẳng vào thực tế rằng phần lớn các hoạt động mua bán nguyên vật liệu như lá chuối, lá dong, rơm rạ, củi đốt, tre nứa… diễn ra trong phạm vi làng xã, chợ quê, giữa những người dân quen biết nhau. Nhiều trường hợp không hề tồn tại quan hệ “mua – bán” theo nghĩa thương mại thông thường.

 Người dân trồng sẵn chuối, dừa, dong trong vườn nhà để sử dụng gói bánh, làm nem, làm bánh tét, bánh chưng. Có người mướn bà con trong xóm vô cắt lá, mỗi buổi trả vài trăm nghìn đồng tiền công. Những giao dịch này từ trước đến nay vẫn dựa trên sự tin cậy, thỏa thuận miệng, trả tiền mặt. Nay yêu cầu phải có hóa đơn, chứng từ chuyển khoản, xác nhận nguồn gốc… thì chẳng khác nào buộc người dân phải “hành chính hóa” cả những sinh hoạt kinh tế nhỏ bé nhất.

 Không chỉ khó, mà trong nhiều trường hợp, đó là điều gần như không thể thực hiện. Ai sẽ là người cấp giấy chứng nhận nguồn gốc cho lá chuối trồng trong vườn nhà? Ai xác nhận chất lượng đầu vào, đầu ra của những sản phẩm mang tính thủ công, gia truyền, sản xuất theo mùa vụ? Nếu làm đúng, phải có một quy trình rõ ràng, khoa học, khả thi. Còn nếu làm theo kiểu chắp vá, lúc siết chặt, lúc nới lỏng, lúc làm ngơ, lúc thanh tra thì chính sự tùy tiện đó lại đẩy người dân vào tâm trạng hoang mang, lo sợ thường trực.

 Trước đó không lâu, dư luận từng xôn xao về câu chuyện “thuế đậu hũ”, khi truyền thông nhà nước đưa tin rằng “trong một gia đình, nếu chồng sản xuất đậu hũ và vợ mang đậu ra chợ bán, thì mỗi người được tính là một cá thể kinh doanh riêng và có thể phải chịu nghĩa vụ thuế riêng”. Cách giải thích máy móc này khiến dư luận đặt câu hỏi rằng chẳng lẽ mọi hoạt động kinh tế trong gia đình, dù gắn bó chặt chẽ với nhau, đều phải bị “xé lẻ” để quản lý?

 Tương tự, nếu chồng tự trồng chuối, vợ lấy lá chuối của chồng để làm nem bán ra thị trường, thì có phải cả hai đều phải kê khai, nộp thuế? Chồng có phải xuất “hóa đơn lá chuối” cho vợ hay không? Và nếu không có hóa đơn đó, thì người vợ có bị coi là kê khai thiếu chi phí đầu vào, dẫn tới bị truy thu, phạt thuế?

 Những câu hỏi tưởng như khôi hài này phản ánh một thực tế rất nghiêm trọng rằng hệ thống chính sách đang được thiết kế theo tư duy quản lý cứng nhắc, thiếu sự phân biệt giữa kinh tế quy mô lớn và sinh kế nhỏ lẻ của người dân. Khi mọi hoạt động đều bị áp vào cùng một khuôn khổ pháp lý phức tạp, rối rắm, thì người chịu thiệt đầu tiên chính là những người thấp cổ bé họng.

 Đáng lo hơn, trong một rừng luật, rừng nghị định thay đổi chóng mặt, quy trình chồng chéo, khó hiểu, thì ngay cả những người làm ăn chân chính, tuân thủ pháp luật cũng luôn sống trong tâm trạng bất an. Họ sợ một ngày nào đó bị kiểm tra, bị bắt lỗi vì thiếu một tờ giấy, sai một thủ tục, không có một bảng kê đúng mẫu. Trong khi đó, những kẻ làm ăn phi pháp, buôn gian bán lận lại dễ dàng lợi dụng chính sự rối rắm ấy để “đi cửa sau”, hối lộ, thỏa thuận ngầm với cán bộ thanh tra. Hệ quả là người ngay thì khổ, kẻ gian thì sống khỏe.

 Thực tế gần đây cho thấy sự bất cân xứng rất rõ trong cách thực thi pháp luật. Cơ quan chức năng có thể vào tận các cửa hàng bán chim cảnh, thậm chí đến các hội chơi chim của người dân để kiểm tra giấy tờ nguồn gốc từng con chim. Người bán quần áo cũ cũng bị kiểm tra nguồn gốc, nhãn hiệu, xuất xứ. Nhưng trong khi đó, ngoài thị trường, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng vẫn tràn lan. Hàng chục, thậm chí hàng trăm tấn thực phẩm bẩn, thịt heo, thịt gia cầm không rõ nguồn gốc, cá, chim ngâm hóa chất độc hại vẫn ngang nhiên được bày bán mỗi ngày, gây nguy hiểm trực tiếp đến sức khỏe người dân mà ít khi thấy bị xử lý.

 Việc siết chặt này cho thấy đối tượng chủ yếu bị nhắm vào những người mua bán nhỏ lẻ, yếu thế, dễ kiểm tra, dễ xử phạt, trong khi những đường dây lớn, những nhóm lợi ích đứng sau hàng giả, hàng bẩn lại được bỏ qua. Rõ ràng, chính sách quản lý không những không bảo vệ được người tiêu dùng, tiểu thương mà còn tiếp tay cho gian thương. Thị trường vì thế ngày càng bất công, méo mó, bị thao túng và thâu tóm vào tay các chuỗi cửa hàng lớn, những tập đoàn, nhóm lợi ích có vốn lớn, có quan hệ, có khả năng lo liệu giấy tờ.

Bình luận về bài viết này