Mỹ và Trung Quốc – Ai mạnh hơn?

Theo DCVO

Các thủy thủ thuộc tàu ngầm tấn công nhanh lớp Virginia USS Iowa (SSN 797) đứng dọc lan can trong lễ hạ thủy tại Căn cứ tàu ngầm Hải quân New London ở Groton, Connecticut, Hoa Kỳ vào ngày 5 tháng 4 năm 2025. Ảnh: US Navy – John Narewski

So sánh Mỹ và Trung Quốc

Nhiều chuyên gia trên thế giới vẫn cho rằng hiện nay và trong tương lai, Mỹ vẫn giữ vị thế áp đảo tuyệt đối trong tác chiến tàu ngầm. Không quốc gia nào tiệm cận được Mỹ về độ êm, hiệu năng và độ tin cậy của tàu ngầm khi thực hiện các nhiệm vụ quân sự.

Tuy nhiên, tại phương Tây đang nổi lên một quan điểm ngày càng phổ biến rằng Trung Quốc đang chuẩn bị vượt Mỹ trong các lĩnh vực như giảm tiếng ồn tàu ngầm và độ tin cậy khi triển khai ở những khu vực xa, tiềm ẩn rủi ro cao. Dù vậy, quan điểm này không hoàn toàn đúng.

Các chiến dịch hoạt động xa bờ, có khả năng là lãnh thổ của đối phương, là thách thức lớn nhất đối với các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) cũng như các tàu ngầm hạt nhân (SSN) của Trung Quốc. Năng lực của các tàu này có dấu hiệu cải thiện, nhưng tốc độ phát triển của SSBN Trung Quốc và tên lửa đạn đạo đi kèm là chậm nếu so với tiêu chuẩn phương Tây. Dù vậy, Bộ Chiến tranh Mỹ vẫn mô tả SSBN mới nhất của Trung Quốc là “lực lượng răn đe hạt nhân trên biển đáng tin cậy đầu tiên.”

Hiện Trung Quốc sở hữu 6 SSBN và 6 SSN (cùng 48 tàu ngầm diesel-điện chiến thuật). Lớp SSBN mới nhất, Type 094, đã bắt đầu các chuyến tuần tra răn đe hạt nhân từ tháng 12/2015. Tuy nhiên, để bảo đảm luôn có ít nhất một SSBN hoạt động trên biển, Trung Quốc cần duy trì 3-4 tàu cùng lúc. Ngoài ra, SSBN rất tốn kém trong chế tạo, bảo dưỡng và đặc biệt đòi hỏi trình độ huấn luyện thủy thủ đoàn cực kỳ cao.

Trong khi đó, Hải quân Mỹ sở hữu 14 SSBN, mỗi chiếc có lượng giãn nước khi lặn là 18.750 tấn – lớn nhất từng được chế tạo cho Hải quân Mỹ. Mỗi tàu có thể mang 24 tên lửa đạn đạo Trident II, mỗi tên lửa bao gồm 12 đầu đạn hạt nhân độc lập có thể nhắm mục tiêu riêng. Điều này đồng nghĩa hạm đội SSBN chiếm một nửa tổng số đầu đạn hạt nhân chiến lược của Mỹ. Vì vậy, ngay cả trong kịch bản toàn bộ tên lửa đạn đạo liên lục địa đặt trên bộ của Mỹ bị phá hủy trong một đòn tấn công phủ đầu, hạm đội SSBN vẫn đủ khả năng tiến hành một cuộc phản công hạt nhân hủy diệt, gây tổn thất nghiêm trọng cho quân đội, dân cư và ban lãnh đạo chính trị-quân sự của Trung Quốc.

Trong Chiến tranh Lạnh, các SSN của Mỹ đã nhiều lần chứng minh khả năng xâm nhập và hoạt động không bị phát hiện trong vùng biển nội địa của Liên Xô. Các SSBN của Liên Xô khi đó hoàn toàn có nguy cơ bị các SSN của Mỹ tiêu diệt. Các SSBN của Trung Quốc – vốn ồn hơn và kém tin cậy hơn – cũng sẽ đối mặt với rủi ro tương tự nếu xảy ra chiến tranh hạt nhân với Mỹ. Đặc biệt, tàu ngầm Trung Quốc thua kém Mỹ về khả năng tàng hình, kể cả trong trường hợp được triển khai trong các vùng được coi là trú ẩn an toàn gần lãnh thổ Trung Quốc.

Ý tưởng về các vùng trú ẩn an toàn này xuất phát từ kinh nghiệm của Liên Xô trước đây, vốn tin rằng Biển Okhotsk và Biển Barents là các khu vực bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, niềm tin đó đã đánh giá thấp khả năng Mỹ và Anh xâm nhập vào những cứ điểm được cho là an toàn của Nga, nhờ vào khả năng hoạt động êm và hiệu suất chiến đấu vượt trội so với Liên Xô trên mọi phương diện của tác chiến tàu ngầm và chống tàu ngầm.

Quan trọng hơn, Trung Quốc thậm chí còn không có lợi thế địa lý như Liên Xô trước đây, khi phía Đông và Nam của Trung Quốc bị bao quanh bởi các đối thủ tiềm tàng và đồng minh mạnh của Mỹ. Trung Quốc phải đối mặt với tình trạng vùng biển nông ở phía Đông, trong khi Mỹ có vùng biển sâu an toàn hơn nhiều ở cả bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Ngoài ra, Biển Hoàng Hải, Biển Đông và Biển Nhật Bản là những vùng biển nông tương đối bị hạn chế, do Mỹ và các đồng minh, gồm Nhật Bản và Hàn Quốc tuần tra kiểm soát chặt chẽ. Trong khi đó, vùng biển Đông Nam Á cũng tương đới nông và bị thu hẹp bởi nhiều eo biển và đường thủy nhỏ.

Năm 1988, một tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm JL-1 đã được phóng thành công từ SSBN đầu tiên của Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu đánh giá rằng điều này đồng nghĩa Trung Quốc đã sở hữu năng lực răn đe hạt nhân trên biển thực sự là quá sớm. Nhận định đó đã đánh giá thấp các thách thức về huấn luyện, học thuyết và bảo dưỡng, cũng như chưa tính đến khả năng sống sót của tàu ngầm Trung Quốc khi phải đối mặt với sức mạnh chống tàu ngầm hiện đại của Mỹ và Nhật Bản.

Liệu Bắc Kinh đã vượt Mỹ?

Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng các SSBN mới của Trung Quốc mở rộng đáng kể tầm hoạt động chiến lược của Hải quân Trung Quốc và cho thấy tham vọng hải quân của nước này. Tại Washington, có nhiều ý kiến cho rằng Bắc Kinh có đủ nguồn lực và công nghệ để tiếp tục theo đuổi một lực lượng SSBN có khả năng răn đe thực sự, nhưng điều đó sẽ cần rất nhiều thời gian và kinh nghiệm. Biện pháp duy nhất hiệu quả để đối phó với SSBN Trung Quốc vẫn là tác chiến chống ngầm truyền thống, đặc biệt là sử dụng SSN.

Do đó, khả năng tấn công trả đũa hạt nhân trên biển của Trung Quốc trước các biện pháp đối phó của Mỹ vẫn còn là triển vọng rất xa. Các tàu ngầm tấn công của Mỹ hiện vượt trội đến mức Trung Quốc gần như không thể phát hiện được. Bên cạnh đó, Trung Quốc chưa có biện pháp hiệu quả để đối phó với lực lượng tàu ngầm hiện đại mà cả Mỹ và Nhật Bản đang sở hữu. Trong nhiều năm tới, bài toán chống ngầm vẫn sẽ vượt quá khả năng của Hải quân Trung Quốc.

Thực tế là Mỹ đang sở hữu một lợi thế mang tính quyết định nhờ lực lượng tàu ngầm hạt nhân. Cho đến khi Bắc Kinh làm chủ được khả năng phát hiện tàu ngầm, các tàu ngầm Mỹ vẫn có thể đe dọa mọi tàu chiến mà Trung Quốc triển khai. Mỹ có thể phát hiện tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc trong khi vẫn giữ được trạng thái hoàn toàn bí mật. Điều này có nghĩa là Mỹ sẽ tiếp tục duy trì ưu thế đáng kể, kể cả đối với lực lượng SSBN được coi là trụ cột răn đe hạt nhân của Trung Quốc.

Đặc biệt, Trung Quốc vẫn chưa có tiến triển trong việc đảm bảo an toàn cho lực lượng phản công hạt nhân trên biển của mình. Hải quân Mỹ hoàn toàn có thể dùng SSN để tiêu diệt một SSBN Trung Quốc trước khi nó kịp phóng vũ khí hạt nhân. Ngay cả nếu một hoặc vài tên lửa đã được phóng, SSN Mỹ vẫn có thể nhanh chóng loại bỏ SSBN đó để ngăn các đợt phóng tiếp theo.

Trung Quốc rõ ràng muốn cạnh tranh trực diện với Hải quân Mỹ nhưng khả năng bắt kịp Mỹ vẫn còn nhiều nghi vấn, đặc biệt trong lĩnh vực tác chiến dưới biển. Kinh nghiệm tác chiến trên biển của Trung Quốc không thể so sánh với Mỹ, quốc gia đã tích lũy hơn 80 năm kinh nghiệm kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Có thể phải mất một thời gian dài nữa, Trung Quốc mới có khả năng cạnh tranh trực diện với Hải quân Mỹ.

Việt Nam

Câu chuyện tàu ngầm làm nổi lên nhiều vấn đề. Thường những quốc gia quan trọng và đủ sức mới sắm cho mình các tàu ngầm quan trọng. Ngày 20 tháng 1 năm 2017, Việt Nam tiếp nhận chiếc tàu ngầm lớp Kilo sáu và cũng là chiếc cuối cùng trong một lô 6 chiếc. Chiếc tàu thứ sáu này mang tên Bà Rịa-Vũng Tàu (HQ-187), tại cảng Cam Ranh. Chiếc tàu ngầm này sử dụng hệ thống động cơ điện-diesel và gia nhập biên chế năm tàu ​​ngầm khác của Việt Nam theo cùng một thỏa thuận. Tàu ngầm được vận chuyển đến Việt Nam trên tàu Rolldock Storm, một tàu đăng ký của Hà Lan.[1]

Việt Nam theo truyền thống, luôn ca ngợi các “chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam” thuộc biên chế các tàu ngầm này. Nhưng ít ai biết rằng, khi nhận chiếc tàu ngầm đầu tiên loại này, Việt Nam đã phải ký kết với Singapore một hiệp ước đặc biệt, trong đó bên Singapore sẵn sàng cứu giúp nếu các tàu ngầm này có các sự cố, chẳng hạn không mở được cửa.

Các chiến sĩ hải quân theo các tàu này đã phải chịu rất nhiều huấn luyện khổ ải. Bên Trung Quốc đã cho biết là nhiều chiến sĩ hải quân đã phải gặp các bác sĩ tâm lý để điều trị.

Trung Quốc được coi là mối đe dọa quân sự tiềm tàng nhất đối với Việt Nam, nhưng một cuộc tấn công trên bộ hoặc đổ bộ quy mô lớn sẽ khó có thể xảy ra trong tương lai. Nếu một cuộc tấn công quân sự xảy ra, nó có thể nhằm mục đích gây thiệt hại đáng kể và có thể giành được một số vị trí chiến lược ở Biển Đông. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc phong tỏa hoặc xâm lược một số tiền đồn của Việt Nam ở Biển Đông, phong tỏa các cảng biển và hàng không của Việt Nam, hoặc các cuộc tấn công chính xác.-

[1] https://www.cescube.com/vp-vietnam-s-purchase-of-kilo-class-submarines-and-military-modernization

Bình luận về bài viết này