Đặng Đình Mạnh
Theo Nguoi-viet
Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đã có một phát ngôn để đời tại chương trình đối thoại với UBND thành phố Hà Nội vào ngày 17 Tháng Mười Hai 2025.
Ông đề cập đến ý tưởng “chọn lọc gene để đào tạo tinh hoa” đã gây nên cơn bão dư luận dữ dội trên mạng xã hội. Điều khiến xã hội quan tâm không phải nằm ở tính khả thi của ý tưởng này, mà chủ yếu ở những hệ quả đạo đức, lịch sử và thể chế mà nó hàm chứa.

Trước hết, cần phân biệt rạch ròi giữa ứng dụng khoa học di truyền vì mục tiêu y học, nâng cao sức khỏe cộng đồng, với việc sử dụng di truyền học như một công cụ sàng lọc giá trị con người.
Thật vậy, khoa học hiện đại cho phép phát hiện và điều trị nhiều bệnh di truyền, nhưng đồng thời cũng thống nhất rằng gene không quyết định toàn bộ năng lực trí tuệ, đạo đức hay giá trị xã hội của một cá nhân.
Việc chế độ hoặc cá nhân quan chức có ý tưởng gán cho gene vai trò trung tâm trong việc “tạo ra lực lượng tinh hoa” sẽ dẫn đến một cách hiểu mang tính áp đặt sinh mệnh, đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng bẩm sinh vốn đang là nền tảng của xã hội hiện đại.
Trong lịch sử, khát vọng tạo ra “con người tốt hơn” không phải là điều mới mẻ. Từ khi con người biết thuần hóa gia súc và gieo trồng mùa màng, nguyên lý chọn lọc gene đã trở thành một kinh nghiệm nền tảng, rằng muốn có kết quả tốt, phải giữ lại những cá thể được cho là ưu tú nhất.
Chính từ kinh nghiệm tưởng chừng hữu ích này, một ý tưởng đầy tham vọng nhưng cũng vô cùng nguy hiểm đã nảy sinh, là áp dụng sự chọn lọc ấy lên chính con người và từng được khái quát hóa thành thuyết ưu sinh.
Thuyết ưu sinh ấy đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử phương Tây.
Thời Sparta cổ đại, việc sinh ra một đứa trẻ không còn là vấn đề riêng của gia đình mà là vấn đề đối với quốc gia. Theo ghi chép của sử gia Plutarch, trẻ sơ sinh phải trải qua sự kiểm tra của hội đồng trưởng lão, qua đó, những đứa trẻ khỏe mạnh được nuôi dưỡng để phục vụ thành bang, còn những đứa trẻ bị coi là khiếm khuyết thì bị loại bỏ.
Dù các bằng chứng khảo cổ chưa xác nhận đầy đủ các ghi chép này, nhưng câu chuyện về Sparta vẫn trở thành một biểu tượng kinh điển cho tư duy chính quyền can thiệp thô bạo vào sự sống con người nhân danh lợi ích tập thể.
Tư duy đó tiếp tục được “nâng cấp” về mặt triết học trong tác phẩm “Cộng Hòa” của Plato. Ở đây, quốc gia được ví như một “nhà phối giống vĩ đại”, sắp đặt việc sinh sản của tầng lớp tinh hoa nhằm tạo ra những công dân ưu tú nhất.
Plato so sánh việc này với lai tạo chó săn hay chim ưng, cho rằng để con người sinh sản một cách “ngẫu nhiên” là vô trách nhiệm với tương lai quốc gia. Dù chỉ tồn tại trên bình diện lý thuyết, tư tưởng này đã để lại dấu ấn sâu đậm, rằng con người có thể bị xem như phương tiện cho một lý tưởng trừu tượng mang tên quốc gia.
Bước sang thế kỷ XIX, với sự ra đời của thuyết tiến hóa, ưu sinh học tìm được vỏ bọc khoa học mới. Francis Galton, người đặt tên cho khái niệm “Eugenics”, tin rằng tài năng và trí tuệ có thể được cải thiện bằng cách khuyến khích những người “ưu tú” sinh sản nhiều hơn.
Ban đầu, ưu sinh được quảng bá như một giải pháp nhân văn để giải quyết nghèo đói và tội phạm, nhưng chính sự ngây thơ khoa học này đã mở ra “chiếc hộp Pandora”, tạo tiền đề cho những biến tướng cực đoan sau này.
Đỉnh điểm của thảm họa ưu sinh là chương trình Lebensborn của Đức Quốc xã, nơi con người bị đối xử như những “nguồn gene” cần được thu hoạch cho tham vọng chính trị. Khi đó, ranh giới đạo đức hoàn toàn bị xóa nhòa, khiến trẻ em bị bắt cóc, gia đình bị tan vỡ, và hàng triệu sinh mạng bị hủy diệt chỉ vì không đáp ứng các tiêu chí sinh học do quyền lực áp đặt.
Bài học lịch sử này đã khiến thế giới hậu Đệ Nhị Thế chiến đi đến một đồng thuận quan trọng, rằng không có mục tiêu phát triển nào biện minh được cho việc phân loại giá trị con người ngay từ khi sinh ra. Do đó, ưu sinh là một con đường nguy hiểm cần phải từ bỏ dứt khoát.
Cho nên, đặt phát ngôn của ông Trần Anh Tuấn nói trên vào bối cảnh lịch sử – xã hội Việt Nam, những lo ngại của dư luận không phải không có cơ sở khi trong quá khứ, xã hội Việt Nam từng trải qua nhiều giai đoạn phân loại con người theo thành phần, lý lịch, tư tưởng và quan điểm chính trị.
Bắt đầu từ cuộc “Cải cách ruộng đất” với việc phân chia giai cấp một cách thô thiển, đến vụ đàn áp “Nhân văn Giai phẩm” để phân biệt thành phần trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng, hay cơ chế xét lý lịch trong giáo dục, tuyển dụng sau năm 1975… Các chính sách phân hạng, phân biệt này đều để lại những hệ lụy lâu dài về bất bình đẳng cơ hội và gây tổn thương xã hội sâu sắc.
Trong bối cảnh đó, ý tưởng “lựa chọn con người từ sớm để đào tạo tinh hoa” chính là sự tiếp nối của tư duy phân tầng xã hội, dù có được khoác lên ngôn ngữ khoa học và phát triển gì đi nữa. Mối lo ngại của công chúng càng gia tăng khi đã chứng kiến hiện tượng ưu tiên mang tính gia đình trong bộ máy quyền lực, nơi con cháu lãnh đạo thường có con đường thăng tiến thuận lợi hơn so với mặt bằng chung.
Những phát biểu từng gây tranh cãi như “con lãnh đạo làm lãnh đạo là hồng phúc dân tộc” của bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (Đại biểu Quốc hội), hay quan điểm tự phụ đến mức cho rằng “Đảng tự mình xứng đáng trở thành dân tộc” (Phó Giáo sư Tiến sĩ Nhị Lê) đã phản ánh một xu hướng đồng nhất hóa quyền lực chính trị của đảng Cộng Sản như là một dân tộc!? Xóa nhòa đi ranh giới giữa chính quyền, đảng phái và công dân.
Cùng với phát ngôn của ông Trần Anh Tuấn, thì trong một dự thảo nghị quyết của Chính phủ do Bộ Công an soạn thảo và đề xuất vào cùng thời điểm Tháng Mười Hai 2025 về Phát triển Công Dân Số. Một lần nữa, vấn đề phân hạng, phân loại công dân lại được đặt ra. Trong đó, nội dung dự thảo đã đề xuất phân loại công dân thành ba mức: Tích cực, Cơ bản và Chưa xếp hạng thông qua hệ thống Điểm công dân số trên ứng dụng VNeID.
Cho thấy, phát ngôn của ông Trần Anh Tuấn không phải mang tính chất đơn lẻ của một cá nhân. Xâu chuỗi từ quá khứ qua các sự kiện lịch sử “long trời lở đất” như “Cải cách ruộng đất”, “Nhân văn giai phẩm”, “Xét lý lịch”… cho đến hiện tại như “Xếp hạng công dân”, “Chọn lọc gene” là cả một chủ trương xuyên suốt về chính sách xếp loại công dân.

Về bản chất, chúng không khác gì chính sách diệt chủng mà Đức Quốc Xã đã áp dụng tại Châu Âu trong cuối thập niên ba mươi, đầu thập niên bốn mươi thế kỷ trước, cũng như của Pol Pot – Ieng Sary đã áp dụng tại Cao Miên vào những năm 1975 – 1979 đã khiến cho hàng triệu con người lương thiện phải chết oan.
Từ góc độ xã hội học và đạo đức học, một xã hội bền vững không thể được xây dựng trên giả định rằng giá trị con người có thể được xác định từ gene, tư tưởng, lý lịch hay điểm số hành chính. Lịch sử cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao không phải là sản phẩm của chọn lọc sinh học, mà là kết quả của một hệ thống giáo dục khai phóng, môi trường cạnh tranh công bằng, thể chế minh bạch và khả năng dịch chuyển xã hội dựa trên năng lực thực tế.
Do đó, vấn đề mà phát ngôn của ông Trần Anh Tuấn nêu ra, hoặc vấn đề xếp hạng công dân do Bộ Công an đang dự thảo không chỉ là những ý tưởng về quản lý, điều hành xã hội gây tranh cãi, mà là câu hỏi sâu xa hơn về định hướng giá trị của phát triển, rằng xã hội hướng tới việc mở rộng cơ hội cho mọi cá nhân, hay chấp nhận một mô hình xếp hạng mới, nơi sự bất bình đẳng được hợp thức hóa bằng ngôn ngữ kỹ thuật và quản trị?
Trả lời cho câu hỏi này sẽ quyết định không chỉ chính sách quản lý, điều hành xã hội, mà còn là hình hài đạo đức và thể chế của xã hội trong nhiều thập niên tới, nếu chế độ Cộng Sản còn có thể duy trì đến lúc ấy.