Khi tòa án CSVN trắng trợn vi phạm pháp luật

Đặng Đình Mạnh

Theo Nguoi-viet

Trong một công văn ghi ngày 17 Tháng Mười Một, 2025, của Tòa Án Khu Vực 1 Tỉnh Lâm Đồng gửi trại tạm giam số 1 thuộc Công An Tỉnh Lâm Đồng, yêu cầu không cho một bị cáo hình sự được tiếp xúc với luật sư đang gây xôn xao trong giới hoạt động ngành tư pháp Việt Nam.

Vì lẽ, một sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng hầu như đang được phô diễn một cách công khai. Không chỉ là hành vi vi phạm Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, gồm quyền bào chữa và được bào chữa, mà đồng thời, còn xâm phạm nhân quyền vốn được Hiến Pháp minh thị bảo hộ. Không chỉ vậy, mà quyền hành nghề của luật sư cũng bị tòa án tự tiện phủ định một cách đầy kệch cỡm khi nhân danh “tránh oan sai, không bỏ lọt tội phạm?!”

ông an và dân phòng CSVN chận các ngả đường dẫn vào tòa án ở Hà Nội mỗi khi có một phiên xử án chính trị dù ra thông báo nói phiên tòa “xét xử công khai.” (Hình: Ian Timberlake/AFP/Getty Images)

Ngang nhiên tước đoạt quyền bào chữa của luật sư theo Điều 73 BLTTHS 2015

Điều 73 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự quy định rõ và không có ngoại lệ như sau: Người bào chữa có quyền gặp, hỏi người bị buộc tội (khoản 1 điểm a). Quyền này phát sinh ngay khi luật sư được cấp thông báo người bào chữa, không phụ thuộc ý chí của tòa án hay cơ quan điều tra.

Quyền bào chữa là quyền hiến định, được ghi nhận tại Điều 31 Hiến Pháp 2013, và tòa án, với tư cách “cơ quan xét xử” là chủ thể phải bảo vệ quyền này, chứ không được xâm phạm. Vậy mà tòa án Lâm Đồng lại ban hành văn bản tước bỏ quyền gặp luật sư của bị cáo, tương đương với:

Cản trở luật sư thực hiện nhiệm vụ; Tước đoạt quyền tiếp cận pháp lý của bị cáo; Làm sai lệch tiến trình tố tụng.

Đây là vi phạm tố tụng đặc biệt nghiêm trọng, vì nó không chỉ sai ở mức thủ tục, mà làm ô nhiễm toàn bộ tiến trình xét xử.

Tòa án vi phạm Điều 80 BLTTHS khi cố tình đặt thêm điều kiện trái luật

Điều 80 BLTTHS quy định rất rõ, khi làm việc, luật sư chỉ cần xuất trình thông báo người bào chữa + thẻ luật sư. Không cơ quan nào được quyền bổ sung thêm điều kiện.

Tòa án Lâm Đồng lại đưa ra “lệnh cấm gặp,” nghĩa là: Tự tạo ra một cơ chế trái pháp luật; Tự cho rằng quyền của thẩm phán cao hơn luật; Tước quyền người bào chữa mà không có căn cứ pháp lý; Làm thay quyền quyết định của cơ quan quản lý trại tạm giam.

Đây là biểu hiện của sự lạm quyền tư pháp, thứ vốn phải bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 377 BLHS (tội xâm phạm hoạt động tư pháp).

Xâm phạm nhân quyền theo tiêu chuẩn quốc tế

Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công Ước ICCPR 1966, trong đó quy định: Quyền được có luật sư từ giai đoạn đầu tiên của tố tụng (Điều 14).

Nhà nước không được ngăn cản quyền tiếp xúc luật sư.

Với tư cách là thành viên chính thức phê chuẩn công ước, Việt Nam có trách nhiệm phải thi hành. Thế nhưng, Tòa Án Lâm Đồng làm ngược lại, đồng nghĩa vi phạm nghĩa vụ quốc tế của nhà nước.

Biểu hiện của “tư duy trị an” thay vì “tư pháp độc lập”

Điều nguy hiểm không chỉ là vi phạm pháp luật, mà là biểu hiện của tư duy coi luật sư là mối đe dọa cho tiến trình xét xử và có thành kiến với bị cáo.

Tòa án và cơ quan điều tra đồng thuận thực hiện cấm đoán, có nghĩa: Họ cần “cách ly bị cáo khỏi luật sư” để bảo đảm “kịch bản” buộc tội. Họ không muốn sự kiểm tra độc lập vào hồ sơ, chứng cứ, hoặc quy trình điều tra. Họ xem luật sư như “kẻ phá rối,” chứ không phải chủ thể trợ tá công lý.

Văn bản của tòa án tỉnh Lâm Đồng ra lệnh cho trại giam không cho nghi can tiếp xúc với luật sư. (Hình: tòa án Lâm Đồng)
Phần đuôi văn bản của tòa án Lâm Đồng thúc trại giam không cho nghi can tiếp xúc luật sư. (Hình: tòa án Lâm Đồng)

Cũng vậy, khi tòa án cấm đoán luật sư, thì họ đã nhân danh “tránh oan sai, không bỏ lọt tội phạm?!” Bằng điều đó, tòa án đã thể hiện rõ quan điểm cho rằng sự tham gia của luật sư sẽ làm cho pháp quyết của tòa án trở nên oan sai và bỏ lọt tội phạm! Đây là dấu hiệu cho thấy hệ thống tư pháp không còn tuân thủ pháp quyền, mà vận hành theo mô hình cai trị.

Tóm lại, khi chính cơ quan xét xử là tòa án vi phạm pháp luật thì pháp quyền của Việt Nam chỉ còn là hình thức. Việc vi phạm pháp luật của Tòa Án Khu Vực 1 Tỉnh Lâm Đồng không chỉ là sai phạm cá biệt của một tòa án địa phương. Nó là sản phẩm của một hệ thống tư pháp vận hành mà không cần tuân thủ luật pháp.

Đó cũng là nguyên nhân gây rối loạn xã hội, khi người dân mất lòng tin vào hệ thống tư pháp và đành chọn giải pháp tự mình thực thi công lý theo cách man rợ nhất, họ không còn cần các định chế tư pháp văn minh như tòa án, luật sư nữa. Trong xã hội man rợ đó, tòa án và cả luật sư, xem ra, chẳng còn lý do gì để mà tồn tại?

Ai? Và điều gì đã kéo xã hội văn minh về thời hồng hoang, man rợ này? [kn]

Bình luận về bài viết này