Châu Âu tái vũ trang : Thức tỉnh chiến lược hay hỗn loạn có hệ thống ?

Phan Minh

Theo RFI

Sau nhiều thập kỷ thu hoạch “lợi tức hòa bình”, châu Âu đang tái vũ trang với tốc độ nhanh chóng, nhưng một cách thiếu tổ chức và thậm chí mơ hồ. Tuy nhiên, an ninh của châu lục giờ đây phụ thuộc vào một chính sách quân sự đúc kết tập thể và phải dựa trên một ngành công nghiệp quốc phòng ít phụ thuộc vào Hoa Kỳ hơn.

Ảnh minh họa : Một cuộc tập trận của NATO ở Ba Lan, ngày 18/06/2015.
Ảnh minh họa : Một cuộc tập trận của NATO ở Ba Lan, ngày 18/06/2015. AP – Alik Keplicz

Đối mặt với hành động hiếu chiến của Nga đi kèm với những khiêu khích và các chiến dịch đe dọa ngày càng gia tăng, các quốc gia châu Âu đang tái vũ trang. Thái độ khó đoán của chính quyền Trump càng thúc đẩy lục địa già trong việc nắm lấy vận mệnh của mình trong lĩnh vực quốc phòng.

Tuy nhiên, việc mua sắm vũ khí diễn ra một cách rời rạc. Châu Âu [cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu (EU) và không phải thành viên] vẫn phụ thuộc nhiều vào Mỹ trong lĩnh vực này ; và ngành công nghiệp quốc phòng của họ phát triển rất chậm, mặc dù đã có những tiến bộ gần đây.

Kết thúc một ảo tưởng

Cuộc chiến ở Ukraina là một phép thử đối với châu Âu. Sau hơn ba thập kỷ giảm vũ khí để thu về “lợi tức hòa bình” trong giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh, ngân sách quân sự tăng lên, kèm theo các thông báo về đơn đặt hàng xe tăng, máy bay chiến đấu và tên lửa.

Việc tái kích hoạt lực lượng dự bị được ưu tiên, cũng như việc thúc đẩy các ngành công nghiệp vũ khí. Mặc dù muộn màng, nhưng sự thay đổi này minh chứng cho một sự tiến bộ lớn. Châu Âu không còn coi mình là một lục địa giàu có, quá thảnh thơi khi giao phó cho Hoa Kỳ bảo vệ về mặt an ninh (bao gồm cả hạt nhân), mà không cần nỗ lực thực sự. Do đó, những chỉ trích từ Washington về việc các quốc gia châu Âu thiếu đầu tư vào quốc phòng là hoàn toàn hợp lý.

Tuy nhiên, việc tái vũ trang, dù cần thiết, lại diễn ra trong sự hỗn loạn và vội vàng vì hành động này chủ yếu được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi hoặc sự nhận thức, chứ không dựa trên một kế hoạch cụ thể. Liên Âu, mặc dù chi tiêu nhiều hơn, nhưng không thể xác định một tầm nhìn tổng thể để xây dựng một nền quốc phòng có tổ chức.

Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), chi tiêu quân sự của các quốc gia châu Âu đã tăng kỷ lục 17% vào năm 2024, đạt 693 tỷ đô la. Tất cả các quốc gia EU, ngoại trừ Malta, đều tăng ngân sách quốc phòng. Đức, vốn lơ là trong việc chi tiêu quốc phòng, đã tăng vọt 28%, đạt 88,5 tỷ đô la, trở thành nhà đầu tư quân sự lớn thứ tư thế giới, điều mà chỉ vài năm trước là chuyện không tưởng. Ba Lan là quốc gia dành tỉ lệ GDP lớn nhất cho quốc phòng : 4,2% hiện nay so với 2% vào năm 2021, và điều này cho thấy một nỗ lực khổng lồ. Mục tiêu của Vacxava là đạt 5% vào năm 2026.

Một cuộc tái vũ trang rời rạc

Về những chính sách tái vũ trang tại châu Âu, có thể thấy nhiều chiến lược khác nhau tùy vào mỗi quốc gia. Đức đầu tư vào Zeitwende (thay đổi kỷ nguyên) của mình vào việc mua sắm vũ khí của Mỹ : máy bay F-35, tên lửa Patriot, trực thăng CH-47 Chinook…

Pháp, với đạo luật chương trình quân sự 2024-2030 trị giá 413 tỷ euro, chú trọng vào tự chủ và khả năng răn đe hạt nhân, đồng thời vẫn hướng đến ngành công nghiệp quốc nội.

Ý và Tây Ban Nha hiện đại hóa hải quân và không quân (các chương trình FREMM, Eurofighter), đồng thời vẫn rất gắn kết với Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO). Các quốc gia Baltic và Scandinavia tập trung vào việc bảo vệ lãnh thổ (siết chặt biên giới) và phát triển cơ sở hạ tầng tiếp nhận quân đội đồng minh.

Châu Âu đang tái vũ trang một cách hỗn loạn : Cộng Hòa Séc mua lá chắn tên lửa, Đức phóng vệ tinh, Litva mua drone của Thổ Nhĩ Kỳ và Israel, mà không có một nỗ lực phối hợp và hợp lý hóa các đơn hàng.

Mặc dù sự đa dạng này phản ánh các nhu cầu thực tế và cấp bách trong bối cảnh mỗi quốc gia nhìn nhận khác nhau về tính cấp bách, do vị trí địa lý cũng như các mối đe dọa được cho là trực tiếp hay xa xôi, hoặc do truyền thống quân sự, nhưng sự thiếu nhất quán dẫn đến tình trạng phân mảnh công nghiệp và vận hành. Các quân đội châu Âu hiện đang sử dụng gần 180 hệ thống vũ khí khác nhau, so với khoảng 30 hệ thống ở Mỹ. Sự không đồng nhất này làm tăng chi phí, phức tạp hóa hậu cần, với vô số phụ tùng khác nhau và các kỹ năng cần duy trì, khiến cho khả năng tương tác giữa các hệ thống vũ khí và quân nhân trở nên rất khó khăn.

Mua sắm vũ khí từ bên ngoài

Ba Lan minh họa cho những mâu thuẫn phát sinh từ nhu cầu an ninh ngay lập tức và sự không nhất quán về chiến lược. Quốc gia Đông Âu này, vẫn đi trước Đức về chi tiêu quân sự, đã trở thành động lực quân sự của châu Âu, ít nhất là ở phía Đông, nhưng với cái giá phải trả là sự phụ thuộc lớn vào các nhà cung cấp nằm ngoài châu Âu.

Tháng 08/2025, Ba Lan đã ký một hợp đồng mua 180 xe tăng K2 Black Panther của Hàn Quốc, trị giá khoảng 6,5 tỷ đô la. Đồng thời, Vacxava cũng mua các lựu pháo K9 và máy bay FA-50 từ Seoul, và mua xe tăng Abrams của Mỹ.

Ba Lan đã quay sang các nhà sản xuất có khả năng cung cấp vũ khí chất lượng cao một cách nhanh chóng để tăng cường sức mạnh một cách rõ rệt. Tuy nhiên, những lợi thế này lại đi kèm với những bất lợi thực sự. Ba Lan phụ thuộc vào hậu cần nước ngoài, và khâu bảo dưỡng trở nên phức tạp về mặt phụ tùng cũng như kỹ năng cần thiết đối với các thiết bị khác nhau.

Nhưng Ba Lan không phải là quốc gia duy nhất trong tình thế này. Ai cũng biết rằng thông qua NATO, Mỹ đóng vai trò lớn đối với an ninh châu Âu. Mái che hạt nhân của Washington là một minh chứng rõ rệt. Hơn nữa, Hoa Kỳ là nhà cung cấp vũ khí chính cho các quốc gia châu Âu. Máy bay F-35, biểu tượng của sự phụ thuộc này, hiện là chiến đấu cơ tiêu chuẩn của nhiều lực lượng không quân châu Âu. Đức đã lên kế hoạch mua 35 chiếc, với những đợt giao hàng đầu tiên vào năm 2026, Bỉ đã đặt 34 chiếc, Ba Lan 32 chiếc và Đan Mạch 27 chiếc, hiện đã được nhận. Phần Lan đã ký hợp đồng mua 64 chiếc, được giao từ giờ đến năm 2030, trong khi Hy Lạp dự định mua tới 40 chiếc. Na Uy và Hà Lan mỗi quốc gia đã mua 52 chiếc, hầu hết đã sẵn sàng hoạt động. Ý có khoảng 90 chiếc F-35, Vương Quốc Anh dự tính mua 138 chiếc, trong đó khoảng 60 chiếc đã được giao. Cuối cùng, Thụy Sĩ đã đặt 36 chiếc, giao từ năm 2027 và Cộng Hòa Séc 24 chiếc, với các đợt giao hàng đầu tiên dự kiến vào khoảng năm 2031.

Điều đó cho thấy rằng nhiều quốc gia châu Âu đã ưu tiên mối quan hệ với Mỹ, dù phải mua một hệ thống vũ khí bị khóa, bởi F-35 ràng buộc bên sử dụng với mạng lưới hậu cần của Mỹ về bảo dưỡng, huấn luyện và cập nhật phần mềm.

Sự phụ thuộc công nghệ này đặt ra một vấn đề chiến lược lớn, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ được lãnh đạo bởi một chính quyền hỗn loạn và khó lường. Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng xuyên Đại Tây Dương, điểm yếu này có thể nhanh chóng làm giảm đáng kể hiệu suất của đội máy bay F-35 của châu Âu.

Vì vậy, châu Âu không thể thoát khỏi sự giám sát của Washington, như thể đang mua an ninh của mình dưới hình thức tín dụng chính trị, mà không có một bảo đảm vững chắc. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã nhấn mạnh điều này tại Sorbonne vào tháng 04/2024 : “Đã đến lúc châu Âu trở thành một cường quốc.”

Sự phụ thuộc vào Mỹ là hoàn toàn hợp lý nếu châu Âu không có nền tảng kỹ thuật và công nghiệp để sở hữu một chiến lược quốc phòng tự chủ thực sự. Nhưng thực tế không phải vậy. Châu Âu có Airbus, Dassault, Thales, Leonardo, Safran, MBDA, Rheinmetall, Nexter, đều là những “ông lớn” toàn cầu. Châu Âu có rất nhiều năng lực kỹ thuật, nhưng thiếu sự phối hợp và quyết tâm chính trị.

Các chương trình Scaf (Hệ thống chiến đấu hàng không tương lai) và MGCS (Xe tăng châu Âu) là biểu tượng cho sự chậm trễ này. Chương trình SCAF lẽ ra là tương lai của sức mạnh không quân châu Âu, tuy nhiên, dự án này đã gặp phải sự trì hoãn và những bất đồng giữa các nhà sản xuất và các quốc gia thành viên Liên Âu. Chương trình MGCS, nhằm thay thế Leopard 2 và Leclerc, cũng gặp rất nhiều khó khăn. Sự thiếu đồng thuận giữa các quốc gia châu Âu dường như đã vô tình mang lại lợi thế cho các đối thủ của họ. Các nguyên mẫu xe tăng và máy bay chiến đấu của Mỹ và Hàn Quốc có thể sẽ sẵn sàng vào khoảng năm 2030. Tình hình trở nên nực cười, bởi châu Âu có nguy cơ trở thành bên mua công nghệ mà chính mình có thể sản xuất.

Có thể kết luận rằng vấn đề không phải ở ngành công nghiệp bởi châu Âu có nền tảng kỹ thuật. Vấn đề của châu Âu mang tính chính trị : liệu các quốc gia có sẵn sàng chia sẻ chủ quyền ? Họ có thể làm được, lịch sử đã chứng minh điều đó, nhưng tình hình địa chính trị hiện tại không cho phép châu Âu trì hoãn thêm.

Câu hỏi quan trọng khác là liệu châu Âu có thể giảm bớt sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ ? Không có quốc gia nào đưa ra cùng một câu trả lời cho câu hỏi quan trọng này.

Điều kiện của chủ quyền quân sự

Có một số hướng đi rõ ràng để xây dựng một ngành công nghiệp quốc phòng châu Âu thực sự, có thể hướng đến một tinh thần quốc phòng chung ở châu Âu : hài hòa các tiêu chuẩn ; hợp tác trong mua sắm vũ khí ; các hợp đồng với bên ngoài phải có điều kiện nhất định ; tạo ra một “Buy European Act” (tương tự như Đạo luật Mua sắm Mỹ năm 1933)…

Với mối quan hệ rất khác biệt giữa từng quốc gia và Washington, điều quan trọng là phải thể hiện rằng các biện pháp này không nhằm mục đích tách rời khỏi Mỹ, mà chỉ để cân bằng lại mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương bởi một liên minh mạnh mẽ dựa trên các đối tác tự chủ và tự do.

Việc tái vũ trang là cần thiết, không phải chỉ để hỗ trợ Ukraina, mặc dù điều này vẫn còn rất quan trọng. Việc tái vũ trang cũng nhằm kiềm chế Nga ở khoảng cách an toàn vì có thể khẳng định rằng sự hung hăng của Matxcơva sẽ kéo dài hàng thập kỷ.

Châu Âu là một cường quốc kinh tế với tiềm lực và trí tuệ, có thể giành được chủ quyền quốc phòng mà vẫn tiếp tục hợp tác với Mỹ, nhưng giờ đây không được coi Hoa Kỳ là bạn mà là một đồng minh. Mỹ vẫn là một đối tác quan trọng, nhưng không có quyền đặt châu Âu dưới sự giám sát.

Châu Âu có nguồn lực và kỹ năng, nhưng điều châu Âu thiếu là sự đoàn kết, quyết tâm hành động và sự hiểu biết về khái niệm sức mạnh. Châu Âu đang tái vũ trang và sự thay đổi này là đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, châu Âu cần phải tái vũ trang cùng nhau trong khuôn khổ một dự án chung, nếu không, châu Âu sẽ vẫn là một gã khổng lồ kinh tế dưới “mái che” của Mỹ ngày càng có nhiều lỗ thủng.

Nguồn : The Conversation

Bình luận về bài viết này