Joseph Torigian
Bài Điểm sách của Orville Schell
Nguyễn Khoa Thái Anh dịch
Theo DCVO
Cuộc đấu tranh của người cha đã cho biết cái giá phải trả cho quyền lực như thế nào
Ông là giám đốc Trung tâm Bang giao Mỹ-Trung thuộc (Quỹ) Asia Foundation và cựu Viện trưởng phân khoa Báo chí Cao học tại Đại học U.C. Berkeley
Đăng trên Foreign Affairs ngày 20 tháng 10 năm 2025
Số tháng 11/12 năm 2025
Lời dịch giả. Bác Hồ từng ví quan hệ Việt Nam và Trung Quốc “như môi và răng, môi hở thì răng lạnh.” Khi đến thăm Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 2017, ông Tập Cận Bình cũng tuyên bố: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em.” Phương châm 4 tốt láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”và 16 chữ vàng vẫn còn định nghĩa mối quan hệ này: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” Có lẽ dựa trên lịch sử lâu dài của hai nước thì không ai cần phải giải thích thêm cái khó của mối giao hảo này. Hiện nay mô hình của đảng Cộng sản Việt-Nam cũng nhiều phần phản ảnh mô hình của Đảng Cộng sản Nhân dân Trung quốc tuy rằng trong chuyện độc lập và vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam thì hai chữ Thoát Trung vẫn là một thách đố lớn.
Trong bài viết của tác giả Joseph Torigian và bài điểm sách tiếp theo sau đây của ông Orville Schell cũng đã ít nhiều phân tích tường tận hậu quả và ảnh hưởng của quá trình tôn thờ một cách cuồng tín chủ nghĩa Lêninnít của gia đình cha con ông Tập. Đây không chỉ là một trường hợp điển hình của chế độ Cộng sản thông qua tiểu sử của một gia đình mà chính là sự thống trị nhất quán có hệ thống của tất cả các thể chế Cộng sản, từ Nga sô, Trung quốc, các nước Đông Âu cho đến Bắc Triều Tiên, Cuba,Việt Nam, tất cả đều đòi hỏi ở đảng viên một sự tôn thờ bất di (bất) dịch. Tiểu sử lên voi xuống chó và mối trù dập độc địa của đảng Cộng sản Trung quốc đối với gia đình ông Tập Trung Xuân – thân phụ Tập Cận Bình – và sự thăng hoa của con trai là một ngoại lệ đáng kể. Nghĩa là ngoài sự chịu đựng, hy sinh khôn cùng của những thành phần có máu mặt là những mưu mô, toan tính khôn ngoan, có chiến lược, mưu cầu sự sống còn và tiến thân.
Bởi lẽ những người – nhất là những kẻ thành tín – bị mê hoặc bởi tuyên truyền hoa mỹ của chủ thuyết Cộng sản, tham gia đảng để phục vụ lý tưởng, nhưng không bị tôi luyện bởi mưu mô đảng trị nham hiểm của lãnh đạo rồi sẽ bị vắt chanh bỏ vỏ.
Mặc dầu sự cố của của Đảng Cộng sản Trung quốc trong tiến trình thăng hoa của hai cha con ông Tập có thể là một ngoại lệ khi họ không bỏ cuộc nhưng vẫn chai lì bất chấp những đòn ác độc giáng xuống đời họ và gia đình. Sự hy sinh lớn lao, dù cưỡng ép hoặc tự nguyện của đảng viên hay dân tình trong các nước Cộng sản cai trị đã để lại hằng hà sa số những chuyện tang thương khi sự hy sinh của họ để cuối cùng chỉ mang lại thân bại danh liệt.
Chưa kể cả sự trừng trị và đấu tố của đảng Cộng sản Trung hoa chính là những yếu tố đặc trưng của chế độ Cộng sản được quan thầy Trung quốc truyền sang đàn em. Như đã được áp dụng triệt để ở Việt Nam trong các vụ cải cách điền địa và Cách mạng văn hóa nhằm đưa lợi ích của lãnh tụ Cộng sản lên ngôi. Sự bách hại và trừng phạt khủng khiếp, tàn bạo và vô lối của đảng, cho thấy nổ lực quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bỏ qua phát triển tư bản). Trong bài phân tích tiểu sử họ Tập cùng với bài điểm sách dưới đây tuy chỉ chú trọng về 2 cha con họ Tập nhằm giải thích tính cách biểu cảm lạnh lùng của các lãnh tụ Trung quốc, mà dân giả Việt Nam gọi là ‘ngậm miệng ăn tiền’ bất kể sự hy sinh của số lớn dân chúng trong số đó có những nhân vật hàng đầu của đảng đã cống hiến trí tuệ và công sức để rốt cuộc bị vắt chanh bỏ vỏ đưa họ về một tương lai đầy trắc ẩn không khác gì kết luận sau đây của Joseph Torigian:
Tuy nhiên, những tuyên bố của Tập Cận Bình không hề đề cập đến việc ông sẵn sàng đối mặt một cách trung thực với quá khứ tàn phá của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đó chính là rào cản chính khiến Trung Quốc chưa thể trở thành một cường quốc thực sự đáng kính. Nếu Tập Cận Bình thực sự dám đối mặt với lịch sử, ông sẽ phải phá bỏ sự giả dối của đảng cho rằng Cách mạng Cộng sản Trung Quốc chủ yếu là một lực lượng lành mạnh và hữu ích. Đến nay, không có gì cho thấy ông dám cam kết với lịch sử để nói sự thật. Nhưng các thế hệ tương lai ở Trung Quốc, những người không bị ràng buộc bởi gánh nặng của gia đình Tập, có thể một ngày nào đó sẽ tìm thấy tiếng nói của mình và muốn lật đổ trật tự dối trá cũ của Mao. Nếu họ làm vậy, họ có thể ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng một trong những khẩu hiệu nổi tiếng và đáng để tâm nhất của Mao là:“Không phá hủy thì không xây dựng được.”
Với lượng sách khổng lồ vủa tiểu sử gia đình của họ Tập về Trung Quốc được xuất bản trong những năm gần đây, người ta có thể cho rằng thế giới đã hiểu rõ về quốc gia đầy thách đố này. Tuy nhiên, nhiều khía cạnh trong quá trình phát triển lịch sử của Trung Quốc vẫn nằm ngoài sự hiểu biết của phương Tây, và nhiều lãnh tụ của nước này vẫn là những bí ẩn khó giải đáp—không ai khác hơn Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau khi quan sát ông thật suýt sao trong các chuyến công du chính thức, một lần vào năm 2015 cùng Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden và một lần trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Donald Trump vào năm 2017, tôi hiếm khi gặp nhà lãnh đạo nào để lộ biểu cảm ở dáng dấp và nét mặt một ít thông tin về những gì đang diễn ra trong đầu họ đến vậy. Với nụ cười mỉm khó hiểu Mona Lisa luôn hiện hữu trên khuôn mặt, dáng vẻ của Tập Cận Bình khó có thể đoán được.
Sự mờ ám có thể là kỹ năng mà Tập Cận Bình đã học được từ khi còn nhỏ, theo cuốn sách nghiên cứu kỹ lưỡng của Joseph Torigian, Lợi ích của Đảng là điều Tiên quyết; Cuộc đời của Trung Xuân Bình, cha của Tập Cận Bình/The Party’s Interests Come First: The Life of Xi Zhongxun, Father of Xi Jinping. Torigian trích dẫn nhà sử học Trung Quốc Gao Wenqian, người cho rằng sau khi chứng kiến sự sụp đổ của cha mình trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP), Tập Cận Bình đã học được nghệ thuật “kiên nhẫn và che giấu ý định, không để lộ bất cứ điều gì. Xi Zhongxun, một đồng chí thân cận của Mao Trạch Đông, đã trung thành tuyệt đối với cả đảng và cuộc cách mạng, nhưng lại bị trả thù bằng cách bách hại chính trị, đày đọa, cầm tù , và lưu đày trong nước. Đó là thế giới mà Tập Cận Bình đã lớn lên.
Như Torigian nhận xét, lịch sử về động lực nội bộ của ĐCSTQ đặt ra cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là những người không đến từ Trung Quốc, “một trong những mục tiêu nghiên cứu khó khăn nhất trên thế giới.” Không chỉ phải đối mặt với rào cản ngôn ngữ đáng kể, mà ĐCSTQ còn cực kỳ nhạy cảm về việc lộ ra những bí mật đen tối của họ với công chúng, đến mức họ không ngần ngại bóp méo hồ sơ lịch sử bằng tuyên truyền và giữ kín những tài liệu đáng xấu hổ. Kết quả là một lịch sử chính thức được chải chuốt và sắp xếp một cách hoàn hảo nhằm không để lộ ra bất kỳ một nhược điểm nào.
Nhưng nếu nhìn xuyên qua lớp vỏ bọc, một thực tế khác hiện ra: một thế giới đầy dẫy những cuộc đấu tranh quyền lực, âm mưu, kiêu ngạo, phản trắc, và gian dối – nhưng cũng đầy những hy sinh to tát. Bằng cách miêu tả cuộc đời của Xi Zhongxun với những chi tiết phi thường, Torigian giúp độc giả nhìn xuyên qua bức màn và hiểu được những lò rèn chính trị mà cha con họ đã được “rèn dũa,” thuật ngữ mà cả hai sử dụng để mô tả cách họ được tôi luyện bởi những khó khăn và đấu tranh cách mạng.
“Sự sụp đổ của Xi Zhongxun là một bước ngoặt trong lịch sử Trung Quốc,” Torigian viết. Đó cũng là một bước ngoặt đối với gia đình Xi, sau đó rơi vào bi kịch. Vào năm 1962, Xi Jinping mới được 9 tuổi khi cha ông, một thành viên cao cấp của chính phủ Mao, bị thanh trừng với những cáo buộc vô căn cứ, gồm việc phê duyệt xuất bản một tiểu thuyết về người thầy của mình. Ông Xi lớn tuổi bị lâm vào 16 năm cô lập chính trị và bạo lực — ông bị đánh đập đến mức bị điếc một bên tai — cho đến khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền vào năm 1978 và kết thúc Cách mạng Văn hóa.
Như một đồng nghiệp cũ từng nhớ lại, việc thanh trừng ông Xi đã gây ra cho ông “tổn thương tâm lý.” Tuy nhiên, bất chấp tất cả những ngược đãi, ông Xi vẫn kiên quyết khẳng định rằng tất cả những gì ông muốn làm là “cống hiến cả cuộc đời cho đảng.” Người ta không khỏi tự hỏi tại sao – và làm thế nào mọi sự bất công và điếm nhục mà gia đình Xi phải chịu đựng đã ảnh hưởng đến con cái của ông.
Tuổi thơ của Tập Cận Bình đã quá đỗi đau thương đến mức việc bị “đày xuống nông thôn” vào năm 1969 để sống trong cảnh nghèo đói cùng cực và “học hỏi từ nông dân” trong Cách mạng Văn hóa lại trở thành một sự giải thoát. Tất nhiên, suốt thời gian đó, ông phải sống dưới bóng đen nhục nhã của cha mình, một “người phản cách mạng”, một trong những hạng mục thấp nhất trong danh sách trừng phạt chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Như Torigian viết, Tập Cận Bình “phải chịu sự đối xử đặc biệt tàn nhẫn” vì cha mình, người mà ông buộc phải lên án. Người ta có thể tưởng tượng sự nhục nhã của ông khi còn là thiếu niên khi đơn xin gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản – bước đầu trong tư cách đảng viên chính thức mà mọi đứa trẻ đều ao ước – đã bị từ chối tám lần. Và rồi, trước khi Cách mạng Văn hóa kết thúc, chị gái ông, người đã phải chịu đựng những đau khổ riêng, đã treo cổ tự vẫn trong tuyệt vọng.
Để tránh bất kỳ dấu vết nào của tâm lý học đại chúng làm lu mờ nghiên cứu nghiêm túc của mình, Torigian khẳng định cuốn sách của ông “không nhằm mục đích phân tích theo Freud” về bi kịch cha con này. Thay vào đó, ông viết rằng mục đích của ông là sử dụng “cuộc đời của một cá nhân khá đặc biệt để kể câu chuyện về Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thế kỷ 20.” Bằng cách khai thác các nguồn tài liệu mới bằng tiếng Trung, Anh, Pháp và Nga chủ yếu bên ngoài Trung Quốc, Torigian đã làm được điều đó và hơn thế nữa. Hiếm có người con nào thoát khỏi ảnh hưởng của cha mình, và bằng cách trình bày câu chuyện cha con này, Torigian giúp độc giả thấu hiểu sâu hơn về cách quá trình trưởng thành của Tập Cận Bình đã định hình con người ông ngày nay.
Thời đấu tranh
Xi Zhongxun, theo Torigian, đã bị cuốn hút bởi lời hứa của chủ nghĩa Marx-Lenin theo “cảm xúc hơn là lý tưởng.” Sinh ra trong một gia đình nông dân vào năm 1913, ngay sau khi vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh thoái vị, ông chỉ nhận được nền giáo dục sơ đẳng tại tỉnh Shaanxi, vùng tây bắc Trung Quốc đầy khó khăn. “Một người đàn ông cứng rắn với xu hướng dân tộc chủ nghĩa,” Torigian viết, Xi Zhongxun “tìm thấy động lực từ sự hy sinh và tận tụy của những người cách mạng chuyên nghiệp.” Sự lý tưởng hóa của ông về cuộc cách mạng cộng sản, bắt đầu vào những năm 1920, vẫn là chủ đề xuyên suốt cuộc đời ông, ngay cả khi đảng quay lưng lại với ông theo những cách phi lý và tàn bạo nhất.
Lần đầu tiên vào những năm đầu của thập niên 1930 ông bị cuốn vào những cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ của đảng, khi còn là một thanh niên làm việc cùng hai nhà lãnh đạo Cộng sản nổi tiếng nhất của tỉnh Thiểm Tây, Lưu Chí Đan và Cao Cang, ông trở thành nạn nhân của một cuộc thanh trừng phức tạp khiến hàng trăm người bị xử tử. Xi bị cáo buộc là “phái hữu” – thiếu nhiệt huyết trong việc tiêu diệt “kẻ thù giai cấp” như địa chủ và quý tộc nông thôn – và do đó bị đánh đập và giam cầm. Tuy nhiên, trong suốt thời gian bị hạ bệ nhục nhã, ông vẫn kiên định trung thành với đảng và cách mạng. “Tôi tin rằng Ban Chấp hành Trung ương chắc chắn sẽ làm sáng tỏ vấn đề này,” ông lạc quan tuyên bố. “Tôi tuyệt đối không phải là người phản cách mạng.”
Số phận của ông đã thay đổi vào năm 1935, khi Mao, trong tình trạng cần nơi tạm dung sau cuộc hành quân dài đầy gian khổ, tình cờ đến khu vực Thiềm Tây (Shaanxi) và kết thúc cuộc thanh trừng. Xi được phục hồi danh dự và được giao nhiệm vụ làm “công tác Mặt trận Thống nhất” với Quốc dân Đảng, những người đã tạm thời liên minh với Đảng Cộng sản để chống Nhật. Sau đó, ông chuyển đến thủ đô của Đảng Cộng sản, Yanan, nơi ông đứng đầu Trường Đảng Khu Tây Bắc.
Đảng không để lại bất kỳ khoảng trống nào.
Sự hoang tưởng của Mao về kẻ thù và mong muốn thống nhất tư tưởng đã đạt đến độ điên cuồng vào năm 1942, khi ông phát động “chiến dịch chỉnh lý.” Lúc đó, nhiều lãnh đạo cấp cao, bao gồm Thủ tướng Chu Ân Lai, bị buộc phải tham gia vào những ngày tự kiểm điểm và thú tội đầy nhục nhã. Xi được cử đến khu vực Suide phát triển thương mại, nơi ông giúp tổ chức các cuộc mít-tinh quy mô lớn để vạch trần những kẻ gián điệp, điệp viên địch và các phần tử chính trị xấu xa khác. Torigian mô tả các cuộc mít-tinh này tạo ra “một cơn cuồng loạn truy bức kết hợp giữa yếu tố bi hài kịch đáng sợ” và tự hỏi làm thế nào để giải thích một cách dứt khoát những hành động cực đoan như vậy của Xi, người mà ông coi là tương đối ôn hòa.
“Xi là một đảng viên,” Torigian suy đoán, “vì vậy khi được lệnh tìm mật gián, ông ta đã làm.” Mục tiêu của ông là “làm mọi thứ có thể để chứng minh lòng trung thành với Mao.” Kết quả là Mao đã tặng ông một tấm vải trắng có khắc câu “Lợi ích của Đảng là trên hết,” một món quà mà ông trân trọng. Tuy nhiên, dù phải chịu đựng tất cả sự cực đoan chính trị, Torigian mô tả ông là người ưa chuộng “sự cân bằng,” một trạng thái khó tìm thấy dưới thời Mao.
Khi sự nghiệp của ông thăng tiến, Xi được giao những vị trí mới với trách nhiệm và tầm ảnh hưởng ngày càng lớn, cho đến khi ông được biết đến với biệt danh “vua của vùng Tây Bắc.” Năm 1944, cuộc hôn nhân kéo dài tám năm của ông với Hao Mingzhu, người đã sinh cho ông ba người con, tan vỡ. Cùng năm đó, ông kết hôn với Qi Xin, 17 tuổi, và sau đó có thêm bốn người con nữa, trong đó có Tập Cận Bình.
Khi Đảng Cộng sản giành ưu thế trước Quốc dân Đảng vào cuối những năm 1940, Xi tham gia phong trào cải cách ruộng đất của Mao, trong đó hàng triệu địa chủ bị “đấu tố” và xử tử. Ông bày tỏ nghi ngờ về các chiến thuật này và cố gắng đề xuất một con đường trung dung hơn. Tuy nhiên, đây là thời kỳ cực đoan, và Xi tiếp tục tuân lệnh ủng hộ Mao trong chiến dịch tiếp theo chống lại “phản cách mạng.” Xi thậm chí còn kêu gọi thuộc hạ của mình “giết cho đủ số để gây ra sự kinh hoàng và sợ hãi” – một logic, theo Torigian giải thích, ngụ ý rằng “đảng có thể đạt được một ‘số lượng đúng’ trong các vụ xử tử.”
Sau khi Quân đội Giải phóng Nhân dân của Mao cuối cùng đã chiến thắng lực lượng Quốc dân Đảng trong Nội chiến Trung Quốc vào năm 1949, Xi đã làm công tác trong nhiều vai trò chính phủ trung ương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới thành lập. Các chức vụ của ông bao gồm Bộ trưởng Tuyên truyền và quản lý quan hệ với Liên Xô, lúc đó là “anh cả xã hội chủ nghĩa” của Trung Quốc. Năm 1956, ông gia nhập Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và ba năm sau đó trở thành Phó Thủ tướng dưới thời Chu Ân Lai tại Hội đồng Nhà nước, cơ quan hành chính chính và nội các quốc gia. Theo Torigian, chính tại đây, Tập Cận Bình đã nhận ra rằng chính sách cộng sản hóa nông nghiệp vội vã của Mao Trạch Đông, được gọi là “Bước Tiến Nhảy vọt”, đã gây ra một trong những nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại, và rằng “ưu tiên của Chu Ân Lai không phải là chính sách tốt” mà là “sự sống còn chính trị.”
Đến năm 1962, một loạt cáo buộc phức tạp và mâu thuẫn đã khiến Tập Cận Bình một lần nữa rơi vào tình thế khó khăn. Do chính sách hòa hoãn của Moscow với Washington và sự nhấn mạnh của Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev về việc xóa bỏ ảnh hưởng của Stalin, Liên Xô đã trở thành kẻ thù của Trung Quốc; Mao Trạch Đông bắt đầu lo ngại Tập Cận Bình có thể đã bị nhiễm “vi rút xét lại” của Khrushchev. Sau đó, có một cuốn tiểu thuyết mà Xi miễn cưỡng chấp thuận xuất bản về Liu Zhidan, người thầy cũ của ông ở tỉnh Thiểm Tây, người mà một số đối thủ hiện đang chỉ trích. Xi bị cáo buộc có “quan hệ bất chính với Moscow,” chấp thuận một tác phẩm hư cấu sai lệch trở thành một “yếu tố chống đảng.” Ngay cả sau nhiều lời thú tội, tự phê bình và xin lỗi, ông vẫn bị khai trừ khỏi chính đảng mà ông đã dành cả đời để cống hiến.
“Ba mươi sáu năm tình cảm bị phá hủy trong chốc lát”, ông viết khi vòng nhục nhã tiếp theo bắt đầu. Ông cảm thấy như “một người rơi từ tầng 18 của một tòa nhà,” ông nói như thế fvới một người bạn.
Tất cả điều này xảy ra trước khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu vào năm 1966. Khi Mao phát động đội Hồng Vệ Binh tấn công trụ sở đảng và bộ máy nhà nước mà ông cho là đang trở nên quá quan liêu và tư sản, Xi bị đày đến một xưởng cơ khí ở tỉnh Hà Nam. Tại đó, nỗi nhục nhã nối tiếp nỗi đau. Bị một nhóm Hồng Vệ Binh bắt cóc, ông bị đưa đến nhà tù và sau đó bị dẫn ra trước một sân vận động đầy kẻ thù, tay bị trói ra sau lưng, và bị đánh đập trong khi đám đông la hét: “Đả Đảo! Đốt cháy! Chiên giòn!” Ông sau đó bị giam giữ, phải tham gia các phiên đấu tố liên tục và chịu thêm nhiều trận đòn.
Trong tuyệt vọng, Xi đã viết những lá thư cầu xin đến những đồng chí cũ của mình là Mao và Zhou. Mặc dù cả hai đều không trả lời, Torigian lưu ý rằng Xi “không bao giờ từ bỏ tình cảm gắn bó với Mao” hay lòng trung thành với đảng. Mặc dù sẵn sàng nhượng bộ, thậm chí nịnh bợ Mao và đảng, Xi vẫn được mô tả là người có ý tốt: một người bị kẹt giữa việc khuất phục để sống sót hoặc chống đối và bị nghiền nát. Đảng không để lại bất kỳ khoảng trống nào.
“Đả đảo Tập Cận Bình!”
Trong thời gian Xi Zhongxun vắng mặt, người vợ trẻ thứ hai của ông đã chăm sóc con cái theo khả năng có thể. Nhưng do tình trạng sa sút của chồng, bà bị đưa vào “danh sách đen” tại Học viện Đảng Trung ương nơi bà làm việc và sớm phải chịu nhiều cuộc tấn công thể xác. Điều này khiến con cái bà rơi vào tình cảnh đau đớn khi cần những người cha mẹ đã trở nên không được yêu chuộng.
“Tôi không thể chịu đựng được việc nhìn thấy những vết bầm tím trên khuôn mặt bà và cũng lo lắng rằng bạn bè cùng lớp sẽ bao vây bà và khinh bỉ bà, khiến tôi cảm thấy xấu hổ,” anh trai của Tập Cận Bình viết về sự xấu hổ mà anh trải qua khi mẹ anh đưa anh đến trường. “Tôi thường khóc thầm vì sự nhục nhã dành cho mẹ và gia đình mình.”
Một trong những giáo viên của Tập Cận Bình nhớ lại anh đã phải chịu “sự đối xử cực kỳ bất công” vì cha mẹ mình. Tại đơn vị làm việc của mẹ anh, ví dụ, cậu bé Tập Cận Bình là người duy nhất bị kéo ra cùng một nhóm người lớn để bị phê bình công khai. Thiếu niên đó phải chịu đựng việc mẹ mình hô vang “Đả đảo Tập Cận Bình!” vì sợ bị truy bức thêm. Sau đó khi Tập lén trốn khỏi trường vào một đêm để chạy về nhà xin mẹ thức ăn, bà đã mắng mỏ anh và giao anh cho cơ quan chức năng. Ở tuổi 15, anh bị đưa đi thẩm vấn và giam giữ tại một cơ sở, nơi anh sau này cho biết mình “ngất xỉu vì bệnh tật” và “thậm chí đã nghĩ đến cái chết.” Năm 1969, khi anh bị gửi đến một làng nghèo ở Thiểm Tây để làm việc lao động chân tay trong bảy năm khó khăn, anh coi đó là một sự giải thoát.
Hiếm có người con nào thoát khỏi ảnh hưởng của cha mình.
Khi Mao Trạch Đông qua đời vào năm 1976, Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền, và Tập Trung Xuân cuối cùng được phép trở về Bắc Kinh. Ông mô tả tâm trạng của mình là “vừa vui mừng, vừa sợ hãi.” Mặc dù đã trải qua nhiều sự ngược đãi chính thức, ông vẫn coi cơ hội được đóng góp cho sự phát triển của Trung Quốc lần nữa là một “sứ mệnh vinh quang.” Ông được bổ nhiệm làm phó bí thư tỉnh ủy Quảng Đông và được giao nhiệm vụ dọn dẹp hậu quả của Cách mạng Văn hóa. Ông cũng được giao nhiệm vụ giúp khởi xướng khu vực kinh tế đặc biệt mới ở Thâm Quyến, một trong bốn khu vực như vậy mà Đặng Tiểu Bình đã phê duyệt để thu hút đầu tư nước ngoài và kích thích nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đang tụt hậu của Trung Quốc so với các lực lượng thị trường. Đến năm 1980, Xi đã dẫn đầu đoàn đại biểu các tỉnh trưởng Trung Quốc đầu tiên đến Hoa Kỳ.
Tập Cận Bình đã chứng tỏ là một nhà lãnh đạo cải cách tài ba và có tư tưởng là cởi mở. Tuy nhiên, mặc dù Xi Zhongxun và gia đình ông cuối cùng đã được phục chức, Torigian cho rằng “các vấn đề cốt lõi của hệ thống Leninist” – vốn đã cho phép việc bức hại chính trị đối với họ ngay từ đầu – vẫn chưa được giải quyết. Như Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chứng minh khi ra lệnh cho quân đội bắn vào sinh viên biểu tình vào năm 1989, đảng này vẫn chưa từ bỏ thói quen đối phó với cả những thách thức chính trị thực sự lẫn hoang tưởng bằng những biện pháp trừng phạt khắc nghiệt, thường là tàn bạo. Vì vậy, khi Tập Trung xuân qua đời vào năm 2002, thế hệ con cái của ông phải đối mặt với những thách thức tương tự Quốc mà ông đã thấy là không thể giải quyết được.
Mười năm sau, khi Tập Cận Bình được phong làm lãnh đạo tối cao của Trung Quốc, ông mang theo tất cả những kỳ vọng mà những năm cuối cùng trong nhiệm kỳ của cha ông đã gieo mầm. Nhiều người lầm tưởng rằng Tập Cận Bình sẽ theo bước chân cải cách của cha mình và Trung Quốc có thể dần dần chuyển sang\ một hình thức lãnh đạo tập thể hơn, áp dụng hệ thống dựa trên pháp quyền và chào đón một nền kinh tế tự do hơn. Cuốn sách của Torigian cung cấp nhiều manh mối giải thích tại sao những đặc điểm này không trở thành dấu ấn của nhiệm kỳ Tập Cận Bình.
Đỏ hơn cả đỏ
Torigian thừa nhận rằng “áp lực tinh thần đối với một đứa trẻ bị từ chối tham gia vào cuộc phiêu lưu vĩ đại của cách mạng vì mối quan hệ gia đình chắc hẳn rất lớn.” Nhưng ông thận trọng khi đề cập trực tiếp đến câu hỏi về những gì Tập Cận Bình học được từ cuộc phiêu lưu điên cuồng của cha mình. Mặc dù ông thích để độc giả tự rút ra kết luận, ông vẫn để lại một chứng tích dễ theo dõi.
Trong một khoảnh khắc hiếm hoi của sự thành thật, Xi Jinping từng tâm sự: “Cha tôi đã giao cho tôi hai điều: đừng bức hại người khác và nói sự thật. Điều đầu tiên là có thể, còn điều thứ hai thì không.”
Độc giả có thể tự hỏi, tất nhiên, liệu điều đầu tiên có phải cũng là điều bất khả thi ở Trung Quốc hiện nay. Nhưng khi kết thúc câu chuyện gia đình này, người đọc sẽ hiểu rõ hơn tại sao, đối với Tập Cận Bình, sự mập mờ và dối trá lại trở thành những bảo đảm tốt nhất cho sự tồn tại. “Một cách mỉa mai,” Torigian viết, “việc đoán xem Tập Cận Bình ‘thực sự nghĩ gì’ về cha mình là điều khó khăn một phần vì ông lớn lên trong gia đình Tập — một nơi mà một người sẽ học được sự cần thiết của sự thận trọng và kiềm chế từ khi còn nhỏ.”
Trong thời gian Xi còn là thiếu niên ở Shaanxi, dường như anh đã học được một bài học khác: cách tốt nhất để tránh bị coi là kẻ phản bội là trở thành người chính thống hơn bất kỳ ai khác. Như một quan chức Đại sứ quán Mỹ đã viết trong một báo cáo được Torigian trích dẫn, Xi kết luận rằng “bằng cách trở nên đỏ hơn cả đỏ”, anh có thể vừa xoa dịu sự xấu hổ của mình về cha mình vừa bảo vệ bản thân khỏi những chỉ trích tiếp theo.
Câu hỏi thách thức hơn so với việc cha ảnh hưởng đến con trai như thế nào, là câu hỏi còn đọng lại khắp cuốn sách này: Một nhà nước một đảng như Trung Quốc sẽ làm gì với một cuộc cách mạng mà chính các nhà lãnh đạo của nó – chứ không phải các nhà thực dân nước ngoài, các chủ nghĩa đế quốc hay các nhà tư bản bóc lột – trở thành những kẻ áp bức chính của xã hội, tất cả đều nhân danh “giải phóng”? Liệu những nhà lãnh đạo như vậy có bao giờ được mong đợi sẽ đối mặt với quá khứ của chính phủ mình với đủ sự thành thật để thừa nhận những tổn thương đã gây ra, huống chi là bồi thường?

Người Đức đã đối mặt với vận đề đó, nhưng chỉ sau khi phát xít Đức bị đánh bại hoàn toàn. Và phải đến năm 1970, Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt mới quỳ gối xin lỗi trước đài tưởng niệm ở khu ghetto Warsaw. “Đối mặt với vực thẳm của lịch sử Đức và gánh nặng của hàng triệu người bị sát hại, tôi đã làm điều mà con người phải làm khi lời nói không còn đủ sức,” ông viết trong hồi ký của mình.
Vì Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) vẫn đang cầm quyền, thách thức của Trung Quốc khó khăn hơn nhiều so với Đức quốc. Để Tập Cận Bình hoặc các nhà lãnh đạo kế nhiệm của đảng đối mặt với quá khứ của đất nước mình, họ sẽ phải tháo xuống bức chân dung của Chủ tịch Mao treo trên Cổng Quảng trường Thiên An Môn. Hành động đó sẽ phản bội di sản của tất cả những người, như cha của Tập Cận Bình, đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp thiêng liêng của cách mạng Mao. Tập Cận Bình tiếp tục tôn sùng Đảng và coi sự chỉ trích về thành tích của Đảng là “chủ nghĩa hư vô lịch sử.” Thực tế, ông khó có thể thừa nhận quy mô tội ác mà Đảng đã gây ra đối với ông hoặc đất nước, huống chi là từ bỏ những lý lẽ mà ông thừa hưởng từ cha mình rằng những khó khăn của cách mạng có thể đã có những quá độ nhưng có thể tha thứ vì chúng đã giúp tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn cho Trung Quốc.
Torigian dường như bối rối trước tình huống này của Trung Quốc. Ông kết thúc bằng câu này: “Thiếu vắng trong câu chuyện này là một mô tả đầy đủ về phí tổn khủng khiếp về đau khổ con người đi kèm với dự án cách mạng—một thỏa thuận Faustian được thể hiện rõ ràng trong cuộc đời của người đàn ông Xi Zhongxun.”
Không rõ liệu Tập Trung Xuân có nhận ra rằng để duy trì vị thế của một người trung thành của Mao Trạch Đông Trung Quốc, ông phải hy sinh ít nhất một phần linh hồn của mình hay không. Nhưng điều rõ ràng là con trai ông, dù Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vẫn phải đối mặt với cùng một thách thức. Đứng bên cạnh Tổng thống Nga Vladimir Putin và Lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un, ô. Tập Cận Bình gần đây đã tuyên bố trong một cuộc diễn binh quân sự ở Bắc Kinh rằng “sự phục hưng vĩ đại của Trung Quốc là điều không thể ngăn cản.” Sau đó, với luận điệu giống như Mỹ, ông tuyên bố rằng “người dân Trung Quốc kiên quyết đứng về phía đúng của lịch sử và về phía văn minh và tiến bộ của nhân loại”.
Tuy nhiên, những tuyên bố của Tập Cận Bình không hề đề cập đến việc ông sẵn sàng đối mặt một cách trung thực với quá khứ tàn phá của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đó chính là rào cản chính khiến Trung Quốc chưa thể trở thành một cường quốc thực sự đáng kính. Nếu Tập Cận Bình đối mặt với lịch sử, ông sẽ phải phá bỏ sự giả dối của đảng rằng Cách mạng Cộng sản Trung Quốc chủ yếu là một lực lượng lành mạnh và sản xuất. Đến nay, không có gì cho thấy ông có đủ cam kết với sự chính xác lịch sử để làm điều đó. Nhưng các thế hệ tương lai ở Trung Quốc, những người không bị ràng buộc bởi gánh nặng của gia đình Tập, có thể một ngày nào đó tìm thấy tiếng nói của mình và muốn lật đổ trật tự dối trá cũ của Mao. Nếu họ làm vậy, họ có thể ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng một trong những khẩu hiệu nổi tiếng nhất của Mao đáng để tâm: “Không phá hủy thì không xây dựng được.”
