Trúc Phương
Theo Nguoi-viet

Trong bức tranh quyền lực toàn cầu ngày càng manh mún, bên cạnh vô số nhóm hợp tác đa phương và tiểu đa phương, một liên kết mới đang gây nhiều lo ngại: CRINK, viết tắt từ “China, Russia, Iran và North Korea.”
Giới bình luận quốc tế gọi CRINK “trục gây rối” hay “bộ tứ bất an,” hình thành từ nhu cầu đối trọng với trật tự thế giới do Mỹ và Tây phương dẫn dắt. Trên thực tế, CRINK đã trở thành điểm tựa về kinh tế, ngoại giao, và trong một số trường hợp, cả quân sự.
Hàng loạt hiệp ước chiến lược đã gắn kết mối quan hệ này. Tháng Giêng, 2024, Nga và Iran ký hiệp ước quốc phòng 20 năm; Tháng Sáu, 2023, Iran và Bắc Hàn ký hiệp ước phòng thủ chung; năm 2022, Trung Quốc và Nga tuyên bố quan hệ “không giới hạn;” trước đó, năm 2021, Trung Quốc và Iran cũng ký thỏa thuận hợp tác chiến lược 25 năm.
CRINK đem lại gì?
Mẫu số chung của nhóm khá đơn giản: muốn hạn chế ảnh hưởng của Mỹ và Tây phương. Điểm chung khác là sự bị loại trừ ở mức độ khác nhau khỏi trật tự quốc tế hiện hữu. CRINK có ba vai trò chính: giảm tác động của trừng phạt Tây phương thông qua một sân chơi kinh tế thay thế; hỗ trợ lẫn nhau về ngoại giao, đặc biệt trong việc chống lại cáo buộc từ Tây phương; và, ở mức độ nhất định, hỗ trợ về quân sự.
Về quân sự, Bắc Hàn đã gửi hàng vạn binh sĩ cùng lượng lớn vũ khí sang Nga. Iran cung cấp máy bay không người lái Shahed và công nghệ để Nga tự sản xuất; đổi lại, Nga hỗ trợ Tehran máy bay, công nghệ vũ trụ, hỏa tiễn và công nghệ giám sát. Bắc Hàn và Iran đã hợp tác về hỏa tiễn hàng chục năm nay. Trung Quốc tránh dính trực tiếp vào hỗ trợ quân sự, nhưng vẫn bán các linh kiện điện tử mà Mỹ coi là “lưỡng dụng.” Trung Quốc thậm chí ký hiệp ước phòng thủ chung với Bắc Hàn.
Ràng buộc quan trọng nhất trong CRINK là kinh tế. Bị loại khỏi hệ thống kinh tế Tây phương, thương mại nội khối đã giúp Nga và Iran tồn tại dưới áp lực cấm vận. Trung Quốc mua tới 90% dầu xuất cảng của Iran và gần một nửa dầu của Nga. Nga, đổi lại, mở cửa tiếp nhận nhân công Bắc Hàn để Bình Nhưỡng có nguồn ngoại tệ. Với Bắc Hàn, Trung Quốc là đối tác sống còn, chiếm tới 98% thương mại. Đáng chú ý, phần lớn giao dịch giữa các thành viên đang chuyển sang thanh toán bằng nhân dân tệ và đồng rúp, góp phần thúc đẩy xu hướng “phi đô la hóa” – cơn ác mộng chiến lược của Mỹ.
Dù vậy, sự ủng hộ lẫn nhau trong CRINK không hề vô điều kiện. Iran đã thấm rõ điều này trong cuộc chiến 12 ngày với Israel. Sau nhiều năm viện trợ quân sự cho Nga ở Ukraine, Tehran chỉ nhận được những tuyên bố ủng hộ suông và không có bất kỳ hành động cụ thể nào từ Moscow, Bắc Kinh hay Bình Nhưỡng.
Lý do rất dễ hiểu. Cả Nga và Trung Quốc đều phải cân nhắc lợi ích rộng hơn ở Trung Đông. Nga vẫn giữ quan hệ nhất định với Israel và cần sự trung gian của các quốc gia vùng Vịnh như Saudi Arabia, UAE, Qatar – những nước không áp đặt trừng phạt lên Moscow.
Các vương triều Arab Sunni cũng tránh leo thang để bảo vệ ổn định thị trường dầu. Bản thân hiệp ước quốc phòng 20 năm Nga-Iran không có điều khoản phòng thủ chung đã cho thấy Moscow không sẵn sàng can dự. Nói cách khác, Kremlin không “ngu” gì dính vào trong khi Moscow đang khốn đốn sa lầy trong cuộc chiến Ukraine.
Trung Quốc càng không muốn mạo hiểm. Nửa lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc đến từ Trung Đông, chủ yếu qua eo Hormuz – điểm nghẽn đầy rủi ro. Bất kỳ xung đột nào đe dọa tuyến hàng hải này đều có thể làm kinh tế Trung Quốc khủng hoảng. Bắc Kinh từ lâu theo đuổi chính sách “chỉ lo làm ăn, tránh can thiệp quân sự.”
Lợi ích chiến lược không đồng hướng
Với ông Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc, ông không giấu giếm sự ủng hộ dành cho hai “người hàng xóm bất trị” (Nga và Bắc Hàn). Cả hai “tên giang hồ” có “máu liều” này đều có thể trở thành “lá bài hữu ích” của Trung Quốc nếu xảy ra một cuộc xung đột ngoài tầm kiểm soát với Mỹ.
Dù vậy, đó vẫn chưa phải là một liên minh chính trị-quân sự có thể áp đặt sức mạnh lên lục địa Á-Âu, khu vực đông dân và giàu có nhất thế giới. Ông Đường Hiểu Dương (Tang Xiaoyang), trưởng Khoa Quan Hệ Quốc Tế Đại Học Thanh Hoa, nhận xét: “Trung Quốc rất thận trọng khi hợp tác với hai nước này. Khác với cách Tây phương mô tả, Trung Quốc không hoàn toàn cùng phe với họ. Quan điểm của Bắc Kinh về chiến tranh và an ninh rất khác. Điều Trung Quốc muốn là ổn định biên giới” (nguồn: “China Shows Unity With Russia and North Korea, but Divisions Linger,” Wall Street Journal).
Lịch sử đã gieo sẵn những mầm mống ngờ vực giữa các thành viên. Iran từng âm ỉ ký ức đau đớn về việc đế quốc Nga xâm chiếm lãnh thổ Ba Tư vào thế kỷ 18-19, rồi đến cuộc xâm lược của Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến. “Chuyện cũ” ấy vẫn còn vương vất trong các cuộc đối đầu gián điệp. Iran bị cáo buộc đánh cắp công nghệ quân sự của Nga và truyền bá tư tưởng tôn giáo trong cộng đồng người Nga, trong khi Nga tìm cách dập tắt các hoạt động này.
Tương tự, Trung Quốc cũng là “nạn nhân” của việc mất đất vào tay Nga từ thời nhà Thanh. Sự oán giận lịch sử ấy khiến nhiều người Trung Quốc có học thức ngày nay giữ thái độ dè chừng với Nga. Bản thân Nga cũng không hoàn toàn tin tưởng Bắc Kinh.
Một bản ghi nhớ bị rò rỉ gần đây của Nga thậm chí liệt Trung Quốc vào diện “đối thủ,” cảnh báo nguy cơ gián điệp và mối lo Trung Quốc đòi lại Vladivostok cùng nhiều vùng lãnh thổ cũ. Nỗi lo này không phải vô căn cứ, bởi vì từ khi chiến tranh Ukraine nổ ra, Bắc Kinh đã tiến hành các chiến dịch tin tặc nhằm lấy cắp bí mật quân sự Nga, dù hai bên từng cam kết “không hack lẫn nhau.”
Bất an trong “bộ tứ bất an”
Không chỉ lịch sử, khác biệt lợi ích chiến lược khiến mối quan hệ CRINK khó trở thành “tự nhiên.” Trong khối CRINK, Nga cũng có nhiều va chạm lợi ích với các đối tác. Nga và Iran cạnh tranh thị trường dầu mỏ, trong khi Moscow vẫn duy trì quan hệ với các đối thủ của Tehran như Israel và Saudi Arabia, đồng thời tìm cách kiềm chế ảnh hưởng Iran ở Nam Caucasus.
Với Trung Quốc, lợi ích lại càng chồng chéo. Bắc Kinh không muốn Nga thắng cuộc chiến ở Ukraine, vì một nước Nga mạnh sẽ cản bước tham vọng của Trung Quốc tại Âu Châu. Thực tế, Trung Quốc đã chuẩn bị cho giai đoạn hậu chiến bằng cách tham gia các thỏa thuận hợp tác nông nghiệp và tái thiết Ukraine. Ngoài ra, trong khi Nga muốn tận dụng chương trình nguyên tử của Bắc Hàn để làm phân tán sự chú ý của Mỹ thì Trung Quốc lại coi nguyên tử Bắc Hàn là mối đe dọa cho ổn định khu vực.
Bắc Hàn lại nổi tiếng với thói “trở mặt như trở bàn tay,” khi thì nghiêng về Nga, lúc lại dựa vào Trung Quốc. Quan hệ với Bắc Kinh của Bình Nhưỡng đặc biệt thất thường. Từng có lúc ông Kim Jong Un, chủ tịch Bắc Hàn, gọi nỗ lực cải cách kinh tế kiểu Trung Quốc là “cơn gió bẩn thỉu của tự do tư sản.” Những năm gần đây, cả Nga lẫn Trung Quốc đều ủng hộ các lệnh trừng phạt nhắm vào chương trình nguyên tử của Bắc Hàn – một minh chứng cho giới hạn của tình “bằng hữu” khi Bình Nhưỡng trở thành gánh nặng chiến lược.
CRINK chưa thể trở thành một đối trọng của NATO – ít nhất ở thời điểm này. Cái gọi là “ý thức hệ CRINK” – chống lại bá quyền Tây phương – chỉ là mẫu số tối giản. Mỗi nước có ưu tiên khác nhau và khó chấp nhận mạo hiểm vì lợi ích của đồng minh. Trung Quốc và Nga đều coi trọng quan hệ ngoài phạm vi CRINK, nên khó đi xa hơn ngoài việc hợp tác kinh tế. Ngay cả trong nội bộ, cũng tồn tại nghi ngờ: Bắc Kinh muốn duy trì ảnh hưởng tuyệt đối ở Bình Nhưỡng nên cũng không muốn Moscow chen chân quá nhiều.
Dù vậy, tuy không phải là một liên minh chiến lược gắn kết, CRINK vẫn đặt ra thách thức đáng kể. Nhóm này đã chứng minh khả năng tạo ra một “sân chơi phi Tây phương” để các quốc gia bị trừng phạt duy trì giao thương. Điều này khiến công cụ trừng phạt mất dần hiệu lực và đẩy nhanh quá trình phân mảnh kinh tế toàn cầu. Trong tương lai gần, doanh nghiệp quốc tế sẽ phải đối mặt với sự bất định ngày càng lớn khi hệ thống tiền tệ, luật lệ và đối tác thương mại bị chia cắt thành “phương Tây” và “phần còn lại.”
Không nên đánh giá quá thấp CRINK nói chung và quan hệ giữa Trung Quốc với Nga nói riêng. Tất cả phụ thuộc vào “sự giới hạn của sức chịu đựng” gây ra từ chính sách ngoại giao Mỹ, đặc biệt khi chính quyền Donald Trump tiếp tục làm lung lay mạng lưới đồng minh của Washington ở Á Châu và Âu Châu.
Bắc Kinh đang chứng tỏ họ có thể tổ chức các cuộc “Hoa Sơn luận kiếm” với tư cách vừa là “bang chủ” vừa có khả năng “nhất thống giang hồ.” Ông Tập Cận Bình đang lôi kéo Ấn Độ vào phe mình. Sự bát nháo của Washington cùng tình trạng chia rẽ và rạn nứt giữa các nền dân chủ Tây phương đã trao cho Trung Quốc cơ hội hiếm có, khiến Bắc Kinh bớt lo ngại hậu quả ngoại giao khi đứng gần những “kẻ bị ruồng bỏ” như Nga và Bắc Hàn.
Niềm tin rằng sức mạnh bá quyền Mỹ đang kết thúc ngày càng rõ hơn khi mà Tổng Thống Donald Trump không chỉ phá hoại giềng mối các đồng minh truyền thống mà còn làm tan nát cả bên trong nước Mỹ. [qd]