Vì sao Biển Đông vẫn bế tắc? Trung Quốc bao vây Philippines

Nguyễn Công Bằng

Theo CTMM

Các khu vực tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Ảnh: GIS

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines (Philippine Coast Guard – PCG) mới đây đã thông báo đã phát hiện một tàu nghiên cứu Trung Quốc hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines, trong chuyến tuần tra không định kỳ gần quần đảo Babuyan, phía Bắc đảo Luzon hôm 2/8.

Theo thông cáo, tàu Trung Quốc mang tên Hướng Dương Hồng 05 được phát hiện cách bờ biển tỉnh Batanes khoảng 14,9 hải lý (27 km). Tàu này không phản hồi các cuộc gọi vô tuyến từ phía Philippines và được xác định lần cuối ở vị trí cách đảo Calayan, tỉnh Cagayan, 86 hải lý (159 km) ngày 3/8.

PCG cho biết đây không phải lần đầu tàu Hướng Dương Hồng 05 xâm nhập vùng biển Philippines. Tàu này đã bị phát hiện trong EEZ của Philippines ngày 7/6 và ngày 31/7. PCG nhấn mạnh: “Dựa trên hành trình trước đó, tàu Hướng Dương Hồng 05 đã tiến hành nghiên cứu khoa học biển đáng kể trong gần 22 ngày sau khi rời EEZ Philippines và trước khi quay trở lại.”

Sự hiện diện của tàu Trung Quốc đã nhiều lần dẫn đến các vụ va chạm trên biển giữa Philippines và Trung Quốc, đặc biệt tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, với những hành động như ép sát, chặn đầu và dùng vòi rồng đối với tàu thuyền Philippines.

Trung Quốc hiện đang kiểm soát 20 tiền đồn ở quần đảo Hoàng Sa và 7 tiền đồn ở quần đảo Trường Sa. Trong số này, 4 tiền đồn đã được chuyển đổi thành các căn cứ hải quân và không quân hiện đang hoạt động. Sau khi chiếm bãi cạn Scarborough năm 2012, Trung Quốc đã triển khai lực lượng tuần duyên hiện diện liên tục nhưng chưa xây dựng bất kỳ cơ sở nào trên thực thể đang tranh chấp này.

Sáng kiến Ambalat

Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto và Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim mới đây đã nhất trí thúc đẩy một thỏa thuận kinh tế về hợp tác tại Ambalat giàu năng lượng. Diễn biến này đánh dấu một bước tiến đáng kể hướng tới việc tạo ra các điều kiện cần thiết để có thể giải quyết tranh chấp dai dẳng, bổ sung vào danh sách các tranh chấp đã được giải quyết thành công giữa các quốc gia Đông Nam Á ven biển theo luật pháp quốc tế.

Khu vực Ambalat nằm tại biển Celebes, phía Đông đảo Borneo, là nơi có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa Malaysia và Indonesia. Tranh chấp bắt đầu từ năm 1979, khi Malaysia công bố bản đồ ranh giới lãnh hải và thềm lục địa mới nhằm khẳng định yêu sách của mình. Tuy nhiên, bản đồ này không được các nước láng giềng – trong đó có Indonesia – công nhận. Trước đó, 2 bên từng đạt được một số thỏa thuận phân định, tiêu biểu là Hiệp ước về ranh giới thềm lục địa năm 1969 tại eo biển Malacca và Biển Đông.

Tình hình trở nên phức tạp hơn khi bản đồ mới của Malaysia bao gồm 2 đảo Pulau Sipadan và Pulau Ligitan. Indonesia phản đối mạnh mẽ, cho rằng hành động này vi phạm một thỏa thuận miệng năm 1969, theo đó 2 bên sẽ tiếp tục đàm phán về tình trạng của 2 đảo này. Malaysia phủ nhận việc có thỏa thuận miệng và khẳng định 2 đảo thuộc lãnh thổ của mình từ sau khi bang Sabah gia nhập Liên bang năm 1963.

Đến năm 1982, Indonesia điều tàu hải quân đến khu vực Pulau Sipadan để “điều tra sự hiện diện quân sự nước ngoài,” đánh dấu lần đối đầu đầu tiên giữa 2 nước liên quan đến khu vực này. Những năm sau đó, 2 bên liên tục cáo buộc lẫn nhau, khiến tranh chấp kéo dài mà không đạt được tiến triển đáng kể, dù đã thành lập Nhóm công tác chung từ năm 1992.

Năm 2002, sau nhiều nỗ lực không thành, tranh chấp được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Tòa án ra phán quyết công nhận chủ quyền của Malaysia đối với 2 đảo Sipadan và Ligitan. Tuy nhiên, vấn đề ranh giới biển chồng lấn tại Ambalat vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Căng thẳng một lần nữa bùng phát vào đầu năm 2005, khi Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Malaysia (Petronas) cấp quyền khai thác tại Ambalat cho công ty dầu khí Shell. Indonesia lập tức phản ứng gay gắt, triển khai thêm lực lượng và xảy ra nhiều vụ va chạm giữa các tàu hải quân 2 bên. Tình hình chỉ lắng dịu sau các nỗ lực ngoại giao, nhưng vẫn tiếp tục âm ỉ, đặc biệt trong giai đoạn 2008-2009.

Vào tháng 6/2023, 2 nước đã ký 2 thỏa thuận phân định ranh giới biển, đạt được đồng thuận tại khu vực phía Nam eo biển Malacca và biển Celebes. Trong bối cảnh này, đề xuất khai thác chung Ambalat được xem như phần tiếp nối hợp lý trong nỗ lực toàn diện nhằm xử lý các vấn đề biên giới còn tồn đọng. Thỏa thuận Ambalat cũng phù hợp với tinh thần của Công ước Liên Hợp Quốc về UNCLOS, đặc biệt là các Điều 74 và 83 – trong đó quy định rằng các quốc gia có yêu sách chồng lấn cần đàm phán trên cơ sở hợp tác và thúc đẩy các thỏa thuận tạm thời, đồng thời tránh mọi hành động có thể phương hại đến tiến trình đàm phán.

Biển Đông bế tắc

Tình trạng bế tắc hiện nay và tình hình ngày càng trầm trọng ở Biển Đông không phải do các quốc gia Đông Nam Á không sẵn sàng đàm phán dựa trên thiện chí mà là do Trung Quốc không có ý định kiềm chế tham vọng bành trướng, đồng thời không khoan nhượng trước một chương trình nghị sự thống nhất của Đông Nam Á về không gian hàng hải đang tranh chấp. Do đó, điều quan trọng đối với các quốc gia có yêu sách ở Biển Đông, đặc biệt là Malaysia, Philippines và Việt Nam, phải định hướng lại cách tiếp cận của mình, thay vì chờ đợi Trung Quốc đồng ý với một bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc.

Sự thống trị của Trung Quốc đối với Biển Đông bắt nguồn từ việc đảm bảo rằng các bên có yêu sách ở Đông Nam Á vẫn bị chia rẽ và không muốn lên tiếng thay mặt cho nhau. Tại Biển Đông, quần đảo Trường Sa bao gồm các yêu sách chồng lấn của Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam và khu vực Đài Loan. Mặc dù một số thực thể ở Biển Đông là điểm tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á riêng lẻ – chẳng hạn như Hoàng Sa và Bãi cạn Scarborough – nhưng quần đảo Trường Sa có lẽ là thực thể phức tạp nhất, xét đến số lượng các thực thể chồng lấn.

Tuy nhiên, không giống như các yêu sách bất hợp pháp của Trung Quốc, các nước Đông Nam Á có thành tích đáng kể trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế trong các tranh chấp hàng hải. Do đó, đây trở thành cơ hội cho Malaysia, Philippines và Việt Nam xây dựng một cơ chế xây dựng lòng tin không chính thức nhưng hiệu quả tại Trường Sa.

Giống như Philippines, Ấn Độ có tranh chấp lãnh thổ lâu đời với Trung Quốc. Biên giới Trung-Ấn đã chứng kiến các cuộc giao tranh trong nhiều thập kỷ, bao gồm cả vụ đụng độ chết người tại Thung lũng Galwan dọc theo Đường Kiểm soát Thực tế (LAC) hồi tháng 6/2020. Ấn Độ cũng đang ngày càng cạnh tranh với Trung Quốc để giành ảnh hưởng địa chính trị ở Châu Á – Thái Bình Dương theo chính sách “Hành động Hướng Đông” của New Delhi.

Việc Ấn Độ được cho là đang tham gia vào những nỗ lực này không có gì đáng ngạc nhiên, xét đến những lo ngại chung của hai nước về sức mạnh hàng hải ngày càng gia tăng của Trung Quốc, bao gồm cả ở Biển Đông. Năm ngoái, Ấn Độ đã điều chỉnh lập trường về phán quyết trọng tài Biển Đông năm 2016, chuyển từ việc thừa nhận phán quyết sang tích cực kêu gọi tuân thủ phán quyết. Phán quyết ủng hộ hầu hết các yêu sách của Philippines và cho rằng các yêu sách tối đa của Trung Quốc không có giá trị pháp lý theo luật hàng hải quốc tế.

Tương lai ảm đạm

Chúng ta thấy rằng, ví như thỏa thuận Ambalat được xây dựng dựa trên UNCLOS, trong đó cả Malaysia và Indonesia đều công nhận sự tồn tại của tranh chấp và cùng tham chiếu tới một khuôn khổ pháp lý quốc tế được chấp nhận rộng rãi.

Tuy vậy, việc áp dụng mô hình Ambalat tại Biển Đông không dễ dàng. Thách thức lớn nhất là sự thiếu vắng một cơ sở pháp lý chung giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Nhiều quốc gia trong khu vực đến nay vẫn không rõ căn cứ pháp lý của yêu sách “đường 9 đoạn” mà Trung Quốc đưa ra – một lập trường không được UNCLOS công nhận.

Việt Nam là một quốc gia mà vai trò rõ ràng trong tranh chấp, tuy nhiên, quốc gia này vẫn im tiếng, cho dù Trung Quốc cho tàu vào tận trong EEZ của mình để thăm dò. “Theo dữ liệu theo dõi tàu, Việt Nam gần đây đã triển khai một tàu để chặn một tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động ngoài khơi bờ biển phía đông.

Tàu Trung Quốc đã dành phần lớn thời gian nửa cuối tháng 6 trong vùng biển của Việt Nam, hành động mà Hà Nội cho là vi phạm chủ quyền của Việt Nam.”[1]

Hoạt động của tàu Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh căng thẳng trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Việt Nam có lẽ đang tranh thủ cảm tình của Trung Quốc, mặc dù những tranh chấp trên Biển Đông sẽ luôn là thứ ngáng chân cả các bên. Trung Quốc vẫn khẳng định sẽ không bao giờ bỏ Biển Đông. Vậy thì cả hai bên vẫn chơi trò đuổi bắt.

Tham khảo:

[1] https://www.newsweek.com/vietnam-protests-china-ocean-research-ship-survey-eez-2096040

Bình luận về bài viết này