Thùy Dương
Theo RFI
Trong cuộc chiến 12 ngày giữa Israel và Iran hồi tháng 06 vừa qua, trong khi các đường dây điện thoại ở Washington, Paris hay Matxcơva luôn nóng thì Bắc Kinh vẫn như đang « ngoài vòng phủ sóng ». Sự im lặng của Trung Quốc, từng được coi là một sự khôn ngoan, đang bắt đầu bị xem như một sự trốn chạy. Trong một thế giới mà các cường quốc được kỳ vọng thể hiện lập trường, liệu Trung Quốc có thể chơi lá bài kiềm chế mà không bị gạt ra ngoài lề cuộc chơi ?

Trên đây là câu hỏi của nhà nghiên cứu khoa học chính trị, Nadine Loutfi, thuộc Đại học tự do Bruxelles của Bỉ, trong bài viết « Allô ? Có phải Trung Quốc đấy không ? Giữa sự im lặng mang tính chiến lược và tham vọng toàn cầu : Bắc Kinh có thể làm gì với một Trung Đông đang bốc cháy ? » đăng trên trang mạng nghiên cứu The Conversation, ngày 23/07/2025.
Theo tác giả, khi Trung Đông chuyển mình dưới tác động của quá trình tái cân bằng toàn cầu, Bắc Kinh cố gắng củng cố sự hiện diện của mình trong khu vực thông qua các mối quan hệ kinh tế được thúc đẩy và bảo vệ các tuyến đường thương mại của Trung Quốc, đồng thời thực thi chính sách không can thiệp. Hiện tại, Trung Quốc vẫn giữ yên lặng. Bắc Kinh từ chối việc chọn lựa giữa các nước là đối thủ của nhau, thay vào đó muốn ký kết các hợp đồng đủ loại và tăng cường đầu tư. Đó là cách Trung Quốc duy trì quan hệ tốt đẹp với cả Ả Rập Xê Út và Iran, với cả Israel và Palestine, với cả Ai Cập và Qatar, mà không gây ra những rạn nứt ngoại giao lớn.
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu khoa học chính trị, Nadine Loutfi, cũng lưu ý là cách tiếp cận này của Bắc Kinh hiện giờ đặc biệt đang hứng chịu thử thách : cuộc chiến ở Gaza, sự sụp đổ của chế độ Syria, các cuộc đụng độ giữa Israel và Hamas, Hezbollah, Huthi, cuộc chiến giữa Israel và Iran, những căng thẳng xung quanh eo biển Hormuz. Ngoài ra còn phải kể đến sự trở lại mạnh mẽ của Hoa Kỳ.
Nghịch lý của sự cân bằng im lặng : Giữa Iran và Israel, Bắc Kinh đối mặt với thế tiến thoái lưỡng nan
Nhưng đứng trước cuộc xung đột giữa Iran và Israel, chính sách ngoại giao của Trung Quốc dao động giữa lập trường trung lập và chủ nghĩa thực dụng phù hợp với các lợi ích mang tính hệ thống của Bắc Kinh. Mặc dù vẫn trung thành với học thuyết cơ bản về không can thiệp, tôn trọng chủ quyền và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, nhưng trên thực tế, cách tiếp cận này của Trung Quốc lại trở thành một chiến lược né tránh.
Cho đến nay, Bắc Kinh vẫn chưa đưa ra lập trường. Bất chấp bạo lực nhắm vào dân thường, Trung Quốc vẫn tránh nêu tên nước xâm lược. Bắc Kinh kêu gọi « đối thoại », nhưng lại không đưa ra sáng kiến cụ thể nào và không đề xuất được một cơ chế chính thức nào. Cho dù có lên án những căng thẳng này, nhưng Bắc Kinh không bày tỏ quan điểm rõ ràng về bản chất vấn đề. Theo nhà nghiên cứu của Đại học Tự do Bruxelles, sự thận trọng có chọn lọc này của Trung Quốc phác họa một kiểu ngoại giao « tranh tối tranh sáng », một sự trung lập mang tính trình diễn, giả vờ cân bằng nhưng vẫn duy trì sự ủng hộ ngầm với một bên. Về ngắn hạn, mặc dù có hiệu quả trong việc duy trì mối quan hệ với các bên có lợi ích xung đột với nhau, nhưng chiến lược này của Bắc Kinh lại thiếu sự rõ ràng về mặt chiến lược.
Trên thực tế, một chiến lược như vậy làm mờ đi nhận thức về thiện chí thực sự của Trung Quốc trong việc hành động như một cường quốc có vai trò ổn định tình hình và khiến công luận càng tin rằng Bắc Kinh không muốn đảm nhận trách nhiệm mang tính hệ thống.
Điều đáng nói là xung đột Iran – Israel không phải là cuộc khủng hoảng chỉ ở phạm vi bên ngoài các lợi ích của Trung Quốc, mà nó ảnh hưởng đến 3 trục cấu trúc của chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh.
Thứ nhất là về an ninh năng lượng. Trung Quốc, vốn là nước nhập khẩu nhiều dầu thô nhất thế giới tính từ năm 2017, đã không thể giảm sự lệ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Đông. Khu vực này cung cấp gần một nửa trong tổng số 11 triệu thùng dầu mà hiện nay Trung Quốc nhập mỗi ngày. Như vậy, xung đột leo thang hoặc mở rộng sang eo biển Hormuz hoặc các khu vực trung chuyển của Vùng Vịnh sẽ có thể đe dọa đến khả năng duy trì nguồn cung ứng dầu liên tục, với những hệ lụy kinh tế ngay lập tức, trong khi tình hình kinh tế nội địa Trung Quốc đang gặp khó khăn.
Thứ hai là sự ổn định ở các hành lang của Những Con Đường Tơ Lụa Mới. Các tuyến đường chính của Những Con Đường Tơ Lụa Mới (Sáng kiến Vành đai và Con đường – BRI) trên bộ (qua Iran, Pakistan, Trung Á) hoặc trên biển (qua Hồng Hải và Kênh đào Suez), đi qua các khu vực có khả năng chịu tác động từ các xung đột. Việc mở rộng chiến tranh không chỉ ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh của những tuyến đường này, mà còn tác động đến lợi nhuận đầu tư và sự đáng tin cậy trong các cam kết của Trung Quốc với các đối tác trong khu vực Trung Đông.
Thứ ba là về uy tín quốc tế của Trung Quốc như một cường quốc có trách nhiệm. Bằng cách tuyên bố là một giải pháp thay thế cho chủ nghĩa đơn phương của Hoa Kỳ, chính phủ Trung Quốc đương nhiên bị theo dõi, giám sát sát chặt chẽ về khả năng hạn chế, kiềm chế hoặc giải quyết các xung đột. Sự thiếu vắng hành động và sự lặng thinh kéo dài của Trung Quốc trước những cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới có thể làm hoen ố hình ảnh mà Bắc Kinh muốn tạo dựng, ví dụ hình ảnh về một tác nhân tích cực có tầm cỡ thế giới, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và đối thoại, và qua đó làm suy yếu uy tín của Bắc Kinh.
Sự thận trọng của Bắc Kinh có thể được giải thích bởi tính phức tạp trong mối quan hệ của Trung Quốc với hai bên tham gia xung đột. Một mặt, Bắc Kinh duy trì quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng với Iran, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng, an ninh và ngoại giao. Mặt khác, Trung Quốc được hưởng lợi từ hợp tác công nghệ cấp cao với Israel, điều rất quan trọng đối với chiến lược tự chủ công nghiệp của Bắc Kinh và khả năng cạnh tranh với Hoa Kỳ.
Trong bối cảnh như vậy, đối với Trung Quốc sẽ là rất mạo hiểm nếu thiên vị bên này mà gây bất lợi cho bên kia. Lập trường đứng giữa này thúc đẩy Bắc Kinh áp dụng một chính sách ngoại giao thăng bằng, được đánh dấu bằng việc không hòa giải trực tiếp hoặc công khai có sáng kiến vì sợ làm hỏng lợi ích từ cả hai phía.
Như vậy là Bắc Kinh đang tiến đến với sự thận trọng tối đa vì mong muốn duy trì sự cân bằng mong manh giữa hai đối tác hoàn toàn đối lập với nhau.
Tiền lệ Iran – Ả Rập Xê Út : một bước ngoặt về ngoại giao hay một ngoại lệ tình thế ?
Sự hòa giải mang tính lịch sử giữa Ả Rập Xê Út và Iran, được đúc kết tại Bắc Kinh vào tháng 03/2023, đánh dấu một bước ngoặt cho ngoại giao của Trung Quốc tại Trung Đông. Lần đầu tiên, Trung Quốc không còn giới hạn vai trò là nhà đầu tư lớn hay đối tác thương mại kín đáo nữa, mà Bắc Kinh đảm nhận vai trò là nhà trung gian hòa giải, có khả năng đưa hai cường quốc đối địch xích lại gần nhau thông qua một ngôn ngữ chung : không can thiệp, đối thoại và tôn trọng lẫn nhau.
Thành công ngoạn mục và được dàn dựng khéo léo nói trên đã khiến nhiều người nghĩ rằng có một sự thay đổi chiến lược : Trung Quốc không còn bằng lòng với việc chỉ quan sát mà đã bắt đầu hành động như một cường quốc có vai trò ổn định tình hình, vào thời điểm Hoa Kỳ dường như đang mất dần vị thế.
Nhưng điều được gọi là « thành công » này, dù được hoan nghênh đến đâu đi chăng nữa, cho đến ngày nay vẫn chỉ là ngoại lệ chứ không phải là chuẩn mực. Thành công đó có được là nhờ sự kết hợp hiếm hoi của các yếu tố thuận lợi : khi đó sự mệt mỏi đều gia tăng ở cả hai phía Ả Rập Xê Út và Iran, bị bào mòn sau nhiều năm cạnh tranh gián tiếp, với những hậu quả ngày càng tốn kém, ở Yemen, Liban, Bahrein. Và nhìn rộng ra là có một khoảng trống tương đối lớn sau khi Hoa Kỳ rút lui mà Trung Quốc có thể tận dụng, dựa vào quá trình xích lại gần nhau rất mạnh giữa Riyad và Teheran, vốn đã đạt được nhờ các nước trung gian trong khu vực như Oman và Irak. Và cuối cùng, Bắc Kinh chỉ đóng vai trò nhỏ, chủ yếu là cung cấp địa điểm để dàn xếp việc ký kết thỏa thuận.
Đặt cược sự im lặng : Liệu một cường quốc tầm cỡ thế giới có thể đứng xa các xung đột ?
Ngoài việc quản lý căng thẳng ngay lập tức, sự đối đầu giữa Iran và Israel còn đặt ra một câu hỏi cơ bản hơn cho Bắc Kinh : liệu Trung Quốc có sẵn sàng đảm nhận vai trò của một cường quốc có tính quy chuẩn – có khả năng đề xuất một kiến trúc an ninh, dứt khoát trong các cuộc khủng hoảng không cân xứng và điều chỉnh trật tự quốc tế ? Hay là Trung Quốc muốn duy trì vị thế là một « cường quốc về cơ sở hạ tầng » mà ảnh hưởng chủ yếu dựa vào thương mại và đầu tư, chứ không có nền tảng chính sách thực sự ?
Việc Bắc Kinh giữ im lặng kéo dài một cách có kiểm soát hiện đang đi đến giới hạn. Nó dẫn tới hàng loạt nghịch lý. Về mặt địa chính trị, việc từ chối đảm nhận vai trò mạnh mẽ hơn tại các khu vực có khủng hoảng có thể làm suy yếu tuyên bố của Trung Quốc về vị thế lãnh đạo toàn cầu. Xét về góc độ chuẩn mực, việc thiếu vắng sự lên án rõ ràng đối với một số hình thức bạo lực, đặc biệt là hành động ném bom bừa bãi, đang gây ra cảm giác mơ hồ trong thế giới Ả Rập. Và cuối cùng, về mặt chiến lược, mong muốn đồng thời tiếp tục hưởng lợi từ các đối tác có lợi ích không thể hòa giải, chẳng hạn như Iran và Israel, có thể khiến cả hai bên xa lánh Trung Quốc.
Đến giờ, câu hỏi thực sự không phải là liệu Trung Quốc có thể im lặng hay không, mà là sự im lặng này còn có thể được hiểu là ngoại giao « thông minh » chứ không phải là dấu hiệu của sự bất lực về chiến lược trong bao nhiêu lâu nữa.
Đường dây liên lạc đang bận hay bị ngắt kết nối ?
Tóm lại, sự im lặng của Trung Quốc mang tính chiến thuật, một tính toán dài hạn, hay là sự thú nhận là khả năng ngoại giao và quyền lực của mình có giới hạn ? Về điều này, nhà nghiên cứu khoa học chính trị Nadine Loutfi cho rằng cả ba đều đúng.
Trung Quốc đang lên tiếng, nhưng theo cách riêng của mình, thông qua thương mại và cơ sở hạ tầng. Sự im lặng, cho đến nay, vẫn luôn có lợi cho Bắc Kinh, nhưng trong một thế giới mà lời nói là một loại vũ khí xác định lập trường quan điểm thì sự im lặng này cũng có thể trở thành một hình thức truyền tải thông điệp mơ hồ, thậm chí là có thể gây rủi ro.
Đối với Bắc Kinh, Trung Đông vẫn có thể là khu vực thứ yếu. Nhưng đối với nhiều quốc gia trong khu vực, câu hỏi vẫn còn đó : nếu như Bắc Kinh cứ lặng im cho dù tất cả đều bốc cháy thì liệu Trung Quốc thực sự có thể là đối tác vì hòa bình hay không ?