Đăng Đình Mạnh
Theo Nguoi-viet

Trong bối cảnh khủng hoảng lòng tin vào thể chế chính trị tại Việt Nam ngày càng gia tăng, một số người đã bắt đầu cổ súy cho mô hình chính trị độc tài dưới danh xưng “Tập trung Quyền lực”.
Họ viện dẫn các trường hợp như Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee hay Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu để minh họa cho luận điểm: Độc tài có thể mang lại thịnh vượng. Thậm chí, họ đi xa hơn khi cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn là một đảng độc quyền lãnh đạo, cần phải “độc tài hơn nữa” để thúc đẩy phát triển quốc gia.
Trong xu hướng đó, ông Tô Lâm, đương kim Tổng Bí thư của Đảng, được một số cây bút thân Đảng ca ngợi như một nhà cải cách, người sẽ dẫn dắt dân tộc vượt qua trì trệ “vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Họ gọi ông với mỹ hiệu “minh quân”, và ví von ông như một Park Chung Hee hoặc một Lý Quang Diệu của Việt Nam.
Tuy nhiên, lập luận này không chỉ sai lầm trong cách hiểu lịch sử, mà còn nguy hiểm về mặt đạo đức và chính trị. Việc ca tụng Tô Lâm như một minh quân không chỉ dựa trên sự xuyên tạc thực tế, mà còn phớt lờ những hành vi vi phạm pháp luật, nhân quyền và đạo đức nghiêm trọng mà ông từng thực hiện. Việc cổ súy cho mô hình “độc tài khai sáng” chính là sự lặp lại của một vòng tròn luẩn quẩn: Hy sinh tự do để đổi lấy phát triển, nhưng rốt cuộc lại mất cả hai.
Sự ngụy biện về mô hình “độc tài phát triển”
Không thể phủ nhận rằng Hàn Quốc và Singapore từng có những giai đoạn phát triển dưới sự lãnh đạo cứng rắn của Park Chung Hee và Lý Quang Diệu. Nhưng hai nhân vật này hành xử trong những bối cảnh hoàn toàn khác với Việt Nam hiện nay.
Họ xây dựng các định chế minh bạch, đề cao pháp trị, bao gồm tư pháp độc lập, quản trị bằng hiệu quả và tiến bộ, tiến cử, tôn trọng nhân tài, bảo tồn văn hóa, giáo dục nhân bản, khai phóng. Đồng thời, không tạo dựng văn hóa sùng bái cá nhân như các quốc gia cộng sản.
Park Chung Hee, dù độc đoán, nhưng chính ông đã đặt nền móng cho hệ thống pháp quyền và chịu ràng buộc bởi áp lực chính trị trong nước và quốc tế. Khi ông vượt quá giới hạn, chính người dân Hàn Quốc đã xuống đường và chấm dứt cuộc đời chính trị đầy tranh cãi của ông vào năm 1979. Trong khi đó, Lý Quang Diệu, dù có chính sách kiểm soát truyền thông và hạn chế đối lập, vẫn xây dựng bộ máy công quyền hiệu năng, trọng dụng nhân tài, có chiến lược phát triển rõ ràng, và đặc biệt là hạn chế tham nhũng đến mức tối thiểu.
Ngược lại, Việt Nam hiện nay không có bất kỳ cơ chế kiểm soát quyền lực nào hiệu quả. Các định chế kiểm soát quyền lực như hệ thống tư pháp, thanh tra, kiểm tra, báo chí đều tê liệt vì phải nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng Sản.
Đảng Cộng sản giữ độc quyền cai trị, không chấp nhận đối lập, và bộ máy công quyền ngập chìm trong tham nhũng một cách có hệ thống. Việc đặt niềm tin vào “một nhà lãnh đạo sáng suốt” trong hệ thống như vậy chỉ là ảo tưởng nguy hiểm. Bởi lẽ, không có một thể chế tốt, thì ngay cả người tử tế cũng sẽ bị tha hóa. Huống chi, người đứng đầu như ông Tô Lâm lại mang một nhân thân đầy tai tiếng từ quá khứ.
Ông Tô Lâm – Quá khứ không thể gột rửa
Dù được tung hô là người “cải cách” với các chính sách như sáp nhập tỉnh thành, giảm tầng lớp hành chính, nâng vai trò kinh tế tư nhân, nhưng những việc đó không thể gột rửa được hồ sơ nhân thân chính trị đầy tai tiếng của ông Tô Lâm.
Thứ nhất, ông từng là người ký văn bản mật hóa hồ sơ liên quan đến vụ bê bối mua bán AVG, một thương vụ bê bối hàng nghìn tỷ đồng, để che giấu hành vi vi phạm pháp luật. Đây là hành vi che giấu tội phạm, lợi dụng chức vụ để bảo vệ các nhóm lợi ích, đi ngược với nguyên tắc minh bạch trong quản trị công.
Thứ hai, ông Tô Lâm là người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động vi phạm luật pháp quốc tế nghiêm trọng. Ông bị cáo buộc là nhân vật chính đứng sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức năm 2017, một công dân đang xin tị nạn chính trị, dẫn đến khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng giữa Việt Nam và Đức. Cùng kiểu hành xử đó, an ninh Việt Nam dưới thời ông tiếp tục thực hiện vụ bắt cóc blogger Thái Văn Đường tại Thái Lan, bất chấp luật pháp nước sở tại và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
Thứ ba, ông là người chủ mưu trong vụ tấn công Đồng Tâm, vụ án thất nhân tâm, mà trong đó, Bộ Công an đã huy động hơn 3000 cảnh sát vũ trang đột kích vào làng trong đêm, giết hại cụ Lê Đình Kình, người đã ngoài 80 tuổi, đồng thời bắn trọng thương cụ Bùi Viết Hiểu. Cướp toàn bộ hồ sơ tranh chấp đất đai. Sau đó, Bộ Công an khởi tố, bắt giam, tra tấn, xét xử bất công 29 dân làng Đồng Tâm. Đây không chỉ là tội ác, mà còn là hành vi cướp đoạt đất đai trắng trợn dưới vỏ bọc pháp lý: Trấn áp khủng bố. Thực chất, đã không có một vụ án khủng bố nào được khởi tố.
Thứ tư, ông sống xa hoa, vô cảm trước khổ đau của nhân dân. Hình ảnh ông ăn bò dát vàng tại một nhà hàng đắt đỏ ở Anh quốc được loan truyền đi khắp thế giới, trong bối cảnh đất nước vẫn đang đang oằn mình chống đại dịch COVID-19, hàng vạn người chết, hàng triệu người khốn khổ, đã trở thành biểu tượng của sự trơ tráo và đạo đức suy đồi nơi tầng lớp cầm quyền.
Thứ năm, thời kỳ ông làm Bộ trưởng Công an là thời kỳ đen tối nhất với các nhà hoạt động nhân quyền, phong trào xã hội dân sự, và bất kỳ ai dám cất tiếng nói độc lập. Hàng loạt tù nhân lương tâm như Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, gia đình bà Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư… đã bị bắt giữ, truy tố và kết án bất công chỉ vì nói sự thật, thực hiện quyền công dân. Nếu thực sự là người cải cách, ông đã có thể trả tự do cho họ, điều hoàn toàn nằm trong thẩm quyền của ông. Nhưng ông không làm, vì chính ông là người đề ra chủ trương đàn áp họ.
Thứ sáu, khi đã trở thành Chủ Tịch nước và Tổng Bí thư, ông vẫn tiếp tục xem và sử dụng đồng bào mình đang là tù nhân chính trị như là những món hàng hóa để trao đổi lấy lợi ích chính trị với chính phủ nước ngoài.
Thứ bảy, ông chủ trương ngăn chặn quyền tự do lập hội, một quyền hiến định, thông qua việc ban hành nghị định hạn chế việc thành lập hội nhóm.
Thứ tám, ông vẫn tiếp tục duy trì chính sách đàn áp quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Các tổ chức tôn giáo hoặc tu sĩ thực hành quyền tư do tôn giáo độc lập, không gia nhập hệ thống tổ chức tôn giáo do chế độ thành lập đều bị sách nhiễu, ngăn cấm, thậm chí, bị truy tố hình sự, bị bắt cóc, đẩy đưa ra nước ngoài.
Thứ chín, chính ông ra sức thâu tóm mọi nguồn lực trong quốc gia để biệt đãi riêng cho ngành công an, không chỉ tài lực từ ngân sách mà còn thâu tóm các ngành có nguồn thu tài chính, để biến bộ máy này trở thành “siêu bộ” nắm cả kinh tế, an ninh, truyền thông, lập pháp và đàn áp, kiểm soát nhân dân.
Thứ mười, ông thao túng Quốc hội để thông qua các chính sách gây tốn kém, phi lý, như thay đổi chứng minh nhân dân thành căn cước công dân nhiều lần, gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng tiền ngân sách, trong khi đó, ngân sách ngành cho các ngành dân sinh thiết yếu như giáo dục và y tế liên tục bị cắt giảm.

Thứ mười một, ông chủ trương siết chặt báo chí, triệt tiêu truyền thông độc lập, đóng cửa các đài truyền hình, báo chí địa phương, ngành, kiểm duyệt nội dung chặt chẽ hơn bao giờ hết. Một xã hội không có quyền ngôn luận thì làm sao có được cải cách thực chất?
Thứ mười hai, ông “giơ cao, đánh khẽ” dung dưỡng cho thuộc quyền ngành công an vi phạm pháp luật, như trả tự do sớm một cách bất thường cho những cựu công an Dương Tự Trọng, Đỗ Hữu Ca…
Thứ mười ba, ông tạo ra một hệ thống tư pháp mà kẻ tội phạm giàu có có thể dùng tiền bạc để mua bản án trừng phạt với mức độ nhẹ nhàng một cách công khai, chính thức ngay tại tòa án dưới danh nghĩa “Khắc phục hậu quả”.
Không thể kỳ vọng từ một kẻ đàn áp
Một người với nhân thân như vậy, từ chỉ đạo bắt cóc, sát hại dân thường, bức hại tù nhân chính trị, lũng đoạn kinh tế và truyền thông… chỉ có thể là hình mẫu của một “bạo chúa” chứ không thể nào trở thành “minh quân” được.
Một nhà cải cách chân chính trước hết phải tôn trọng pháp luật, nhân quyền và đạo đức công quyền. Ông Tô Lâm không có bất kỳ phẩm chất nào của một nhà lãnh đạo tiến bộ.
Kỳ vọng rằng ông sẽ “kiến quốc”, đưa Việt Nam đến phát triển chỉ là ảo vọng, vì sự phát triển thật sự không thể tồn tại trên nền móng của sợ hãi và đàn áp. Không thể có “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nếu như người dân vẫn bị bắt vì nói thật, bị đánh đập vì biểu tình, và bị kết án vì đòi quyền làm người.
Tóm lại, lịch sử đã chứng minh rằng, không có thể chế độc tài nào bền vững mà không phải trả giá bằng máu và nước mắt. Những ai ca ngợi độc tài như “giải pháp kiến quốc” cần phải tự hỏi: Kiến quốc cho ai, và bằng giá nào? Một quốc gia muốn hưng thịnh không thể thiếu tự do, không thể thiếu pháp trị, và càng không thể thiếu lòng nhân ái.
Tô Lâm không phải là Park Chung Hee và Lý Quang Diệu đã đành, Tô Lâm lại càng không thể là minh quân. Ông là biểu hiện sống động của một thời kỳ mà quyền lực được xây dựng trên bạo lực, gian dối và đàn áp. Sự lên ngôi của ông bằng cách hạ bệ hàng loạt đối thủ chính trị đã là minh chứng cho sự thoái hóa của thể chế, chứ không phải là dấu hiệu của cải cách.
Và điều nguy hiểm nhất, đáng sợ nhất là khi có người dân bắt đầu tin rằng, chỉ cần có một nhà độc tài “tốt” thì sẽ thay đổi được đất nước, thì có vẻ như, não trạng của dân tộc ấy đã có mầm mống thoái hóa. Vì lẽ, họ đã từ chối tự do, điều giúp cho họ trở nên có phẩm giá.