Thuế ở Việt Nam đang ‘khoan sức dân’ hay ‘khoan túi dân’?

Đặng Đình Mạnh

Theo Nguoi-viet

Hơn 6,000 người nộp đơn xin làm công chức sở thuế ở Hà Nội hồi năm 2014 khi thông báo ở thành phố nói cần 340 cán bộ. Ngành thuế vụ tại Việt Nam nổi tiếng là một trong những cơ quan tham nhũng nhất trong guồng máy công quyền. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)

Việt Nam đang đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống thuế khóa, đặc biệt là chủ trương loại bỏ thuế khoán đối với các hộ kinh doanh nhỏ và bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử.

Mặc dù những cải cách này nhằm tăng cường thu thuế và minh bạch hóa nền kinh tế, nhưng mặt khác, chúng cũng tạo ra mối lo lắng đáng kể và thách thức hoạt động cho các doanh nghiệp, dẫn đến các báo cáo về việc doanh nghiệp nhỏ lẻ hoặc hộ kinh doanh đóng cửa hàng loạt hoặc thay đổi cách thức thanh toán bằng tiền mặt.

Đòi hỏi về sự minh bạch kinh doanh của người dân là chính đáng, nhưng câu chuyện không đến từ một phía, khi chính người dân cũng đòi hỏi về sự minh bạch chi tiêu của chính quyền, rằng khoản thuế mà dân đóng góp đã đi về đâu?

Vì lẽ, niềm tin của công chúng vào chi tiêu chính phủ vẫn ở mức cực thấp, do những nhận thức tiêu cực dai dẳng về tham nhũng và quản lý yếu kém trong các dự án nhà nước lớn như Vinashin, Vinalines, MPU18, dự án dầu khí Venezuela, các dự án đường sắt đô thị… Theo đó, người dân nhận ra rằng trong khi luật thuế của hầu hết các quốc gia phát triển đều yêu cầu người kinh doanh phải minh bạch, thì đổi lại, chính quyền từ các quốc gia đó cũng minh bạch khoản chi tiêu có nguồn gốc từ thuế của người dân. Sự mất cân bằng nhận thức này ở Việt Nam là trọng tâm của sự lo lắng và miễn cưỡng không quá khó hiểu của công chúng.

Hiện đại hóa thuế của Việt Nam – Một sự thay đổi mô hình cho doanh nghiệp

Trong lịch sử, các hộ kinh doanh cá thể và hộ gia đình nhỏ ở Việt Nam chủ yếu hoạt động theo hệ thống thuế khoán đơn giản, giúp giảm gánh nặng hành chính. Tuy nhiên, những thay đổi pháp lý gần đây đang thay đổi cơ bản bối cảnh này.

Theo đó, từ ngày 1 Tháng Sáu 2025, các hộ kinh doanh có doanh thu hàng năm từ 1 tỷ đồng trở lên được yêu cầu bắt buộc xuất hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối với cơ quan thuế. Hơn nữa, Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội CSVN nêu rõ rằng phương pháp thuế khoán sẽ bị bãi bỏ hoàn toàn đối với tất cả các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vào ngày 1 Tháng Một 2026.

Ngoài ra, từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, các doanh nghiệp ở Việt Nam muốn khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hóa đơn dưới 20 triệu đồng sẽ phải cung cấp chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Các mục tiêu chính đằng sau những cải cách thuế này là nâng cao hiệu quả và công bằng trong thu ngân sách, chính thức hóa khu vực kinh tế phi chính thức và hài hòa các hoạt động thuế của Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế về minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc chuyển đổi sang hóa đơn điện tử và tăng cường giao dịch không dùng tiền mặt được coi là một bước tiến tới một “xã hội văn minh, hiện đại”, cho phép chính quyền quản lý thuế tốt hơn và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.

Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng tạo ra một gánh nặng tuân thủ đáng kể cho các hộ kinh doanh. Vì lẽ, việc chuyển đổi từ hệ thống thuế khoán đơn giản sang yêu cầu hóa đơn đầu vào và đầu ra chi tiết đã gây ra lo lắng đáng kể cho người kinh doanh trong nước, thậm chí dẫn đến việc họ đóng cửa hàng, cửa sạp hàng loạt để tránh sự kiểm tra của cơ quan thuế.
.
Việc các hộ kinh doanh đã phản ứng bằng cách không chấp nhận chuyển khoản ngân hàng mà chỉ nhận tiền mặt, cho thấy một nỗ lực tự phát của họ nhằm tránh các yêu cầu minh bạch mới. Điều này ngụ ý rằng khi nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định thuế mới được cảm nhận là lớn hơn lợi ích của hoạt động phi chính thức, các doanh nghiệp có thể chọn cách chống lại hoặc rời khỏi hệ thống chính thức.

Niềm tin công chúng và sự thiếu hụt trách nhiệm giải trình trong chi tiêu nhà nước

Mối quan ngại cốt lõi là cảm nhận phổ biến của công chúng rằng nguồn thu từ thuế ở Việt Nam không được sử dụng một cách minh bạch hoặc hiệu quả, dẫn đến sự “thiếu hụt trách nhiệm giải trình” đáng kể trong chi tiêu công. Cảm nhận sâu sắc về tham nhũng và quản lý yếu kém này trực tiếp làm xói mòn niềm tin của công chúng và sự sẵn lòng tuân thủ các nghĩa vụ thuế của người dân nộp thuế.

Có quá nhiều trường hợp điển hình về các dự án nhà nước lớn cho thấy những vấn đề này, như:

– Vinashin: Tập đoàn đóng tàu nhà nước này đã gây ra khoản nợ khổng lồ và lỗ hàng năm đáng kể, được báo cáo là từ 5,000-7,000 tỷ đồng ngay cả sau những nỗ lực tái cơ cấu. Các cuộc điều tra đã tiết lộ các trường hợp cụ thể gây thiệt hại tài chính, bao gồm hơn 316 tỷ đồng từ nhà máy nhiệt điện Sông Hồng và hơn 105 tỷ đồng tiền “lãi ngoài” từ tiền gửi ngân hàng.

– Dự án dầu khí Venezuela (Junin 2): Dự án này đã dẫn đến tổn thất vốn đáng kể, ước tính hơn 11,000 tỷ đồng (tương đương 532 triệu USD) do bị đình chỉ mà không khai thác được dầu. Dự án bị cáo buộc vi phạm các thủ tục đầu tư và gây tổn thất lớn vốn nhà nước.

– Các công trình đường sắt đô thị như Cát Linh – Hà Đông và Bến Thành – Suối Tiên là những điển hình:

+ Công trình Cát Linh – Hà Đông (Hà Nội): Từ mức đầu tư ban đầu 8,769.9 tỷ đồng (552.86 triệu USD), dự án đã “đội vốn” lên 18,001.5 tỷ đồng (868.04 triệu USD), tức tăng gấp đôi. Thời gian hoàn thành cũng trễ hẹn tới 8 năm, từ Tháng Mười Một 2013 đến Tháng Mười Một 2021 mới chính thức đi vào vận hành. Chất lượng công trình cũng là vấn đề đáng lo ngại, với những phản ánh về “tàu bẩn”, dừng đột ngột vì điện, vì thời tiết hay công tác bảo dưỡng kém.

+ Công trình Bến Thành – Suối Tiên (TP.HCM): Chi phí ban đầu hơn 17,000 tỷ đồng đã tăng vọt lên hơn 47,000 tỷ đồng, tức gần gấp 3 lần. Thời gian hoàn thành cũng kéo dài từ năm 2017 đến cuối năm 2024 mới chính thức hoạt động, chậm trễ tới 7 năm. Dự án này đối mặt với nhiều khó khăn về thủ tục, nguồn vốn, giải tỏa diện tích đất, năng lực quản lý và thậm chí là khủng hoảng nhân sự. Các nhà thầu còn khiếu nại đòi chi phí phát sinh gần 4,000 tỷ đồng.

Những trường hợp này cho thấy các vấn đề lặp đi, lặp lại về thua lỗ triền miên, chi phí xây dựng đội vốn và chậm tiến độ trong các dự án quy mô lớn, nổi bật không hề được cải thiện. Chúng không chỉ là những khó khăn đơn lẻ về quản lý yếu kém hoặc tham nhũng mà còn là triệu chứng của những điểm yếu sâu sắc hơn, mang tính hệ thống trong các cơ chế lập kế hoạch, quản lý, thực hiện và giám sát đầu tư công của Việt Nam.

Cho thấy, sự thiếu minh bạch không hề được chính quyền nhận thức đầy đủ, kể cả trách nhiệm giải trình trong quản lý chi tiêu công đã trực tiếp ảnh hưởng đến ý nguyện của người dân trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế.

Người dân nộp thuế đã phải tự hỏi: “Không biết tiền thuế được nộp có được chính quyền sử dụng một cách chính đáng, hiệu quả và hợp pháp hay không? Hay lại vung tay ném tiền thuế của dân qua cửa sổ như nhiều thập niên qua?”.

Các tiêu chuẩn quốc tế – Bài học về minh bạch tài chính và trách nhiệm giải trình

Các nền kinh tế phát triển đều công nhận minh bạch tài chính công là nền tảng của quản trị hiệu quả, ổn định kinh tế và sự tham gia mạnh mẽ của công dân. Các nguyên tắc cốt lõi bao gồm tính toàn diện, kịp thời, dễ tiếp cận và đáng tin cậy.

Các cơ chế chính được quan sát bao gồm:

– Công khai toàn diện các tài liệu ngân sách: Các chính phủ thường xuyên công bố đầy đủ các tài liệu ngân sách, bao gồm đề xuất ngân sách, ngân sách đã được ban hành, báo cáo thực hiện chi tiết hàng quý/tháng và báo cáo kiểm toán độc lập.

– Tạo dựng các phương thức tương tác tích cực với công dân: Các quốc gia Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OECD) ngày càng tích hợp các phương thức đối thoại với công dân vào quy trình lập ngân sách công, thúc đẩy ý thức sở hữu và niềm tin.

– Kiểm toán và giám sát độc lập: Sự hiện diện của các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) mạnh mẽ, độc lập là rất quan trọng để kiểm toán ngân sách và xác định các lĩnh vực kém hiệu quả và tham nhũng.

Để tham khảo thêm, một phân tích so sánh chi phí dự án hạ tầng cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa Việt Nam và các quốc gia khác, đặc biệt là trong phát triển đường sắt cao tốc. Chi phí dự kiến cho đường sắt cao tốc Bắc-Nam của Việt Nam là khoảng 43.69 triệu USD/km , cao hơn đáng kể so với Trung Quốc (17-30 triệu USD/km) và tương đương hoặc cao hơn một số dự án ở Châu Âu (trung bình 25-39 triệu EUR/km) hay Indonesia (52 triệu USD/km) .

Với những chi phí xây dựng luôn luôn vượt xa thế giới, khiến người dân nộp thuế không thể không nghi vấn, tại sao chi phí xây dựng cho các công trình hạ tầng của Việt Nam lại luôn luôn cao như vậy? Nhưng đổi lại, chất lượng lại vô cùng kém cỏi?

Việt Nam có điểm số Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) năm 2024 là 40/100, xếp thứ 88/180 quốc gia, cho thấy những thách thức dai dẳng trong việc chống tham nhũng. Một cuộc khảo sát toàn cầu tiết lộ rằng 53,8% số người được hỏi coi tham nhũng là “yếu tố chính” ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với thuế.

Thế nên, một khi chính quyền đòi hỏi nghĩa vụ thuế đúng và thuế đủ từ người dân một cách minh bạch, thì trước hết, chính quyền phải chứng minh được sự trong sạch, minh bạch và hiệu quả quản lý vốn, ngân sách của chính mình. Dĩ nhiên, mức độ minh bạch ngân sách cao sẽ tương quan tỷ lệ thuận với niềm tin của công chúng và kết quả thu thuế sẽ tốt hơn.

Xây dựng nền tảng niềm tin cho phát triển quốc gia

Việt Nam hiện đang đứng trước nỗ lực hiện đại hóa nền kinh tế thông qua việc tăng cường đòi hỏi người dân nộp thuế phải minh bạch kết quả kinh doanh. Nhưng đồng thời cũng đang phải vật lộn với sự thiếu hụt đáng kể niềm tin của công chúng về việc chính quyền minh bạch về chi tiêu công như thế nào?

Cán bộ công chức tại một cơ quan nhà nước CSVN xét đơn của dân. Thủ tục hành chính ở Việt Nam năm nào cũng thấy kêu gào giản dị hóa nhưng vẫn không hết. (Hình: VNExpress)

Mặc dù việc chuyển đổi từ thuế khoán sang hóa đơn điện tử chi tiết là một bước đi cần thiết để chính thức hóa nền kinh tế và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, nhưng tác động tức thời của nó đã gây ra lo lắng đáng kể và thách thức hoạt động cho các doanh nghiệp nhỏ.

Sâu sắc hơn, những nhận thức tiêu cực dai dẳng về tham nhũng và quản lý yếu kém trong các dự án, chi tiêu công của chính quyền đã làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin của công chúng và tinh thần tuân thủ thuế, tạo ra sự mất cân bằng cơ bản trong khế ước xã hội.

Để chính quyền có thể yêu cầu tuân thủ thuế một cách hiệu quả từ phía người dân, trước tiên chính quyền phải chứng minh rõ ràng sự liêm chính, minh bạch và hiệu quả của mình trong việc quản lý tài chính công. Điều này không chỉ đòi hỏi việc thực thi chống tham nhũng mạnh mẽ mà quan trọng hơn, là các cải cách hệ thống nhằm đảm bảo công khai thông tin ngân sách một cách toàn diện, kịp thời và dễ tiếp cận, cùng với sự giám sát độc lập mạnh mẽ và sự tham gia thực sự của công dân.

Đầu tư vào minh bạch tài chính không chỉ là một gánh nặng quy định mà còn là một mệnh lệnh chiến lược. Đừng đòi hỏi chỉ ở người dân nộp thuế, mà trước hết, chính quyền nên đòi hỏi sự minh bạch đó ở chính mình.

Bình luận về bài viết này