Sức mạnh răn đe hạt nhân của Anh và sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ

Nguyễn Giang

Theo RFI

(Ảnh tư liệu) - Một vụ thử nghiệm tên lửa Trident II D5 từ tàu ngầm USS Nebraska của Hải quân Hoa Kỳ ngoài khơi California, ngày 26/03/2018. Luân Đôn mới đây đã đặt thêm nhiều hỏa tiễn Trident II D5 của Mỹ.
(Ảnh tư liệu) – Một vụ thử nghiệm tên lửa Trident II D5 từ tàu ngầm USS Nebraska của Hải quân Hoa Kỳ ngoài khơi California, ngày 26/03/2018. Luân Đôn mới đây đã đặt thêm nhiều hỏa tiễn Trident II D5 của Mỹ. © U.S. Navy/Mass Communication Specialist 1st Class Ronald Gutridge/Handout via REUTERS

Điều 5 Hiến chương Bắc Đại Tây Dương đặt ra nguyên tắc “đoàn kết cùng chống kẻ thù” của khối NATO, với kho vũ khí hạt nhân của ba nước Mỹ, Anh và Pháp đóng vai trò “vũ khí răn đe chiến lược” với nước gây hấn chống lại thành viên NATO.

Nhưng một trong nhiều hệ quả tức thời của các tuyên bố gần đây, mà chính quyền Trump đưa ra về cuộc chiến ở Ukraina, là khả năng Hoa Kỳ rút dần vai trò chính trong an ninh của NATO ở châu Âu, khiến câu hỏi về năng lực phòng thủ của NATO ở châu Âu thiếu nước Mỹ.

Vậy Anh và Pháp có sẵn sàng đem cái ô hạt nhân ra bảo vệ những đồng minh còn lại ở châu Âu hay không? RFI Tiếng Việt tìm hiểu về năng lực quốc phòng và tấn công bằng tên lửa hạt nhân của Anh. Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang giải thích chủ đề này.

RFI: Đầu tiên là câu hỏi hiện Anh quốc đi tới chỗ sở hữu kho vũ khí nguyên tử ra sao và quan hệ với Hoa Kỳ đóng vai trò gì trong quá trình này ?

TTV Nguyễn Giang : Anh quốc là nơi có các nghiên cứu tiên phong trên thế giới về năng lượng hạt nhân và vũ khí nguyên tử nhưng ngay từ ngày đầu tiên, Anh hợp tác và hỗ trợ Mỹ trong cả nghiên cứu và thử vũ khí hạt nhân. Chúng ta cần nhắc lại lịch sử một chút. Anh đã nghiên cứu vũ khí nguyên tử trong thời gian Thế Chiến II diễn ra ở châu Âu và Đông Á, tức là những năm 1940. Trái bom Không lực Hoa Kỳ ném xuống Hiroshima, Nhật Bản, cũng do các nhà khoa học Anh hợp tác nghiên cứu với Mỹ để tạo ra. Anh cùng Canada đã đóng góp nhiều vào Dự án Manhattan ở Mỹ, tạo ra bom A (atomic bomb) đầu tiên.

Nhưng ngoại giao với Mỹ trục trặc sau năm 1945 khiến Anh bị Mỹ bỏ ra ngoài và không sở hữu vũ khí hạt nhân. Sau khi Liên Xô thử thành công bom nguyên tử năm 1949 thì Anh bắt buộc phải tham gia cuộc chơi và đã thử bom nguyên tử đầu tiên năm 1952. Xin nhắc, vụ thử bom đó do Anh thực hiện nhờ ở sa mạc Nevada của Hoa Kỳ. Từ đó, do sự thúc đẩy của Chiến tranh Lạnh, Anh và “hòa hợp” với Mỹ khiến gần như mọi bước của các hoạt động thiết kế hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân, tàu ngầm nguyên tử của Anh đều gắn liền với Hoa Kỳ. Sự hợp tác này có lợi cho Anh vì giảm được khá nhiều chi phí thiết kế, chế tạo các loại vũ khí quá đắt tiền.

RFI: Hạm đội tàu ngầm nguyên tử và kho đầu đạn hạt nhân của Anh hiện ra sao?

TTV Nguyễn Giang : Hiện giờ Anh có chừng 225 đầu đạn hạt nhân nhưng chỉ có 120 trái gắn trên các hỏa tiễn Trident do 4 tàu ngầm có động cơ hạt nhân lớp Vanguard chuyên chở. Đội tàu này chính là lá bài tủ, còn gọi là “năng lực răn đe hạt nhân tối thiểu đủ thuyết phục” (minimal credible nuclear deterrence) của Anh.

Về quy trình chuẩn bị tác chiến thì luôn có một tàu ngầm Vanguard của Anh ở ngoài biển, theo nguyên tắc liên tục sẵn sàng răn đe trên đại dương (continuous at-sea deterrent-CASD). Tàu này có thể phóng tên lửa đạn đạo từ dưới mặt nước tới bất cứ điểm nào trên Trái Đất nhờ tầm tác xạ – lên không gian rồi bay trở lại bầu khí quyển – tới 4900km, với sai số cách mục tiêu 90 mét. Ba tàu còn lại đóng vai trò: trực ở cảng, để huấn luyện và để bảo trì.

Về sức tàn phá của tên lửa hạt nhân thì chúng ta cần chia sẻ với nhau con số khủng khiếp là một chiếc tàu ngầm có thể mang theo 36 tới 48 đầu đạn hạt nhân. Trên thực tế thì hiện nay mỗi tàu Vanguard của Anh chỉ chở 8 hỏa tiễn trong ống phóng và mang theo tổng cộng 40 đầu đạn. Thế nhưng, chỉ một đầu đạn (nuclear warhead) gắn trên trái tên lửa dài trên 13 mét đã có sức công phá 100 kiloton, so với trái bom “Little Boy” Mỹ ném xuống Hiroshima chỉ có dưới 15 kiloton.

Tức là nếu bắn và một đô thị thì toàn bộ khu vực trong đường kính 100km bị 1 đầu đạn nguyên tử của Anh phá hủy 100%. Nếu bắn cả 48 đầu đạn thì có lẽ người ta tiêu diệt sự sống của con người trên cả một lục địa. Bởi vậy, Anh đã tạo ra loại đầu đạn nhẹ hơn, gọi là “dưới cấp chiến lược” (sub-strategic warhead) chỉ có sức hủy diệt 10 kiloton. Một tàu Vanguard thường mang cả hai loại đầu đạn này nhưng việc sử dụng loại nào là do thủ tướng Anh đương quyền quyết định.

RFI: Cụ thể hơn thì học thuyết chiến tranh nguyên tử của Vương quốc Anh là gì ? Và Anh chỉ sẵn sàng bắn trả hay sẵn sàng khai hỏa, ra tay trước trong cuộc chiến vũ khí nguyên tử ?

TTV Nguyễn Giang : Khác với Pháp, mà gần đây, qua lời tổng thống Emmanuel Macron nói học thuyết phòng vệ bằng vũ khí nguyên tử của Paris có cả “chiều kích châu Âu”, Anh không nói hoặc có thể chưa nói cụ thể về việc sẽ dùng vũ khí nguyên tử ở đâu, nhắm vào nước nào, nhưng điều chắc chắn cho tới nay là học thuyết nguyên tử của Anh có hai nguyên tắc.

Một là Anh dùng vũ khí hạt nhân để bảo vệ khối NATO, tức là gồm tất cả các đồng minh, với tính cách phòng vệ (defensive) và cùng phản công. Hai là Anh chưa hề bỏ chính sách “không bắn trước” (The UK does not have a ‘no-first-use’ policy), tức là Anh giữ quyền tấn công trước khi phải bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi cốt lõi của Anh. Tức là khi chính nước Anh bị đe dọa (sắp bị tấn công nguyên tử hủy diệt) thì Anh sẽ ra tay trước, chứ không còn chỉ răn đe.

Cùng lúc, ngay từ khi ký Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân (NPT) năm 1952, Anh tự hạn chế và đã cắt giảm số đầu đạn xuống khá nhiều, nay sở hữu ít hơn cả Nga, Mỹ, Trung Quốc và Pháp. Đồng thời, Anh cũng cam kết không tấn công hạt nhân vào các nước không sở hữu vũ khí nguyên tử. Xin nhắc rằng di sản của Chiến tranh Lạnh để lại là trên tấm bản đồ đó, toàn bộ vùng châu Âu, Đông Á, gồm Trung Quốc và cả Viễn Đông của Nga, cũng như khu vực Bắc Mỹ vẫn thuộc “vùng oanh kích” bằng bom và hỏa tiễn nguyên tử của các bên. Riêng với Đông Nam Á, gồm Việt Nam, thì năm 1995, Anh ký Hiệp ước SEANWFZ cam kết không dùng vũ khí nguyên tử với các nước ASEAN.

RFI : Sự phụ thuộc vào Mỹ của chương trình vũ khí nguyên tử ở Anh là như thế nào và có hệ lụy gì tới đây hay không?

TTV Nguyễn Giang : Tôi xin bổ sung là học thuyết nguyên tử của Anh là “độc lập”, việc bắn trả nước nào đó khi bị đe dọa tấn công hạt nhân là do thủ tướng Anh quyết định chứ không phụ thuộc vào Mỹ. Nhưng về kỹ thuật thì Anh lại rất phụ thuộc vào sự hợp tác với Hoa Kỳ. Ví dụ hỏa tiễn Trident trên các tàu ngầm Anh là mua từ Mỹ về. Theo hai thỏa thuận, năm 1958 (US-UK mutual defence agreement – MDA) và năm 1963 (Polaris sales agreement). Cụ thể là trái hỏa tiễn và ống phóng, và hai năm một lần, một trong bốn chiếc tàu lớp Vanguard của Anh phải sang cảng ở bang Georgia, Hoa Kỳ để bảo dưỡng.

Tại căn cứ ở Firth, Scoland nơi tàu Vanguard cập cảng luôn có đơn vị chuyên gia quân sự Mỹ cùng làm việc vì hai bên còn chia sẻ thông tin tình báo và hệ thống theo dõi các tàu ngầm nguyên tử đối thủ trên toàn cầu.

Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề khác như hiện nay Anh cung cấp căn cứ Norfolk cho Không lực Hoa Kỳ có thể đáp phi cơ B-2 chuyên chở đầu đạn hạt nhân (B61-12 và B83 nuclear gravity bombs) để răn đe các kẻ thù của Mỹ ở châu Âu và Trung Cận Đông. Sự liên kết Anh-Mỹ trong quân sự không dễ phân tách ra.

Anh chỉ chế tạo các đầu đạn hạt nhân để lắp vào hỏa tiễn. Bản thân tàu Vanguard cũng được thiết kế theo mẫu của tàu ngầm Mỹ và hợp tác tàu ngầm nguyên tử tới đây mà Anh và Mỹ ký với Úc sẽ còn thắt chặt hơn quan hệ truyền thống này. Mới đây, chính phủ Anh lại đặt hàng 3 tỷ USD số hỏa tiễn Trident II D5 ở tập đoàn vũ khí Mỹ, Lockheed Martin, cho tới năm 2031. Như thế, đây là quan hệ sẽ còn kéo dài trong tương lai.

RFI : Bất cứ thay đổi nào trong vai trò của Mỹ trong khối NATO có khiến Luân Đôn nghi ngờ rằng Hoa Kỳ thời Trump có nghiêm túc với các cam kết lâu dài hay không? Và hệ quả của việc này đối với năng lực răn đe nguyên tử của Anh ra sao?

TTV Nguyễn Giang : Mấy tuần qua, các báo Anh đã bàn về vấn đề này. Ai cũng rõ là Pháp đã tuyên bố đem ô hạt nhân ra bảo vệ cho châu Âu, nhất là Đức, và kêu gọi Anh làm tương tự, nhưng lãnh đạo Anh không nói gì cả. Bởi cho tới giờ, ông Trump chưa nói gì tới chuyện đó và Anh không hề muốn làm Mỹ thời Trump phật lòng trong vấn đề cốt tử cho an ninh quốc gia này. Chính thức mà nói thì năng lực răn đe nguyên tử của Anh vẫn để bảo vệ khối NATO, câu hỏi là khối Nato nào, có Mỹ hay không ? Và vấn đề không phải là nước Mỹ mà là ông Trump.

Từ đầu năm 2024, nhà báo Simon Tisdall ở Anh đã nói toàn bộ hạm đội tàu ngầm của Anh tuy có tiếng là “độc lập” nhưng phụ thuộc vào Mỹ và “sự hảo tâm” của Donald Trump (Trump’s goodwill), và đây, theo ông Tisdall là điều khá nguy hiểm. Các phát biểu mới nhất của ông Trump chắc chắn đang làm Luân Đôn nghĩ lại nhiều điều.

Mới tuần trước, câu chuyện được nêu trở lại trên trang The Economist với câu hỏi về năng lực răn đe bằng vũ khí nguyên tử của Anh “có đang gặp vấn đề mang tên Trump” hay là không. Theo bài báo thì Anh cần đánh giá lại sự phụ thuộc vào Mỹ về vũ khí nguyên tử, dù đây là quá trình đau đớn và “vô cùng tốn kém”. Xin nhắc lại, chi tiêu quốc phòng của Anh hiện nay hàng năm là chừng 56 tỷ bảng thì khoảng 12 tỷ là “đóng cứng” vào hạm đội tàu ngầm nguyên tử rồi.

Vừa rồi thủ tướng Keir Starmer quyết định tăng ngân sách quốc phòng lên 2,5% GDP của Anh từ năm 2030, nhưng đó là cho các quân binh chủng khác. Còn nếu phải “giành độc lập” và tự gánh vác chi phí hạm đội tàu ngầm nguyên tử mà tàu Dreadnought mới sẽ sắp thay thế tàu Vanguard, cùng việc xây dựng lại toàn bộ kho hỏa tiễn hạt nhân, thì ngân sách quốc phòng Anh chắc chắn sẽ gặp vấn đề lớn.

Bình luận về bài viết này