Lê Vạn Hoa
Theo Luatkhoa

Gần đây, nhà nước tài trợ làm bộ phim “Đào, phở và piano”. Như nhiều sản phẩm nghệ thuật khác, bộ phim này khi ra mắt cũng nhận được nhiều ý kiến khen chê. Nhưng nếu bình phẩm là chuyện bình thường của khán giả thì người chê phim bị dán mác là không yêu nước hay thậm chí mang tội phản động, phản bội. [1] Họ bị đấu tố nhau hệt như thời chiến. [2] Tại sao những phản hồi dành cho một sản phẩm điện ảnh lại dấy lên những chia rẽ mang đậm màu sắc quy chụp, đổ lỗi như vậy?
Người viết cho rằng tình trạng bắt rễ từ việc giáo dục về “bản sắc dân tộc” và lòng yêu nước của Việt Nam chỉ trong giới hạn phạm vi mà đảng cầm quyền cho phép.
Nói cách khác, sự chuyên chế về các khái niệm văn hóa khiến cho nhiều người bị đóng khung trong “chân lý” của mình và không thể cầu thị khi nghe phê phán từ phía khác.
Tiên tiến, đậm đà ‘tính đảng’
Các khái niệm của chủ nghĩa cộng sản chiếm vị trí chủ chốt trong ngôn ngữ chính trị và giáo dục từ những năm 1950 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước. Để củng cố tính chính danh của mình sau khi Liên Xô và khối Đông Âu sụp đổ, năm 1998, Đảng Cộng sản ban hành Nghị quyết 03 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc [3].
Định nghĩa “tiên tiến” theo Nghị quyết 03 là “yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh […] Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung”. Vậy là, yếu tố hàng đầu trong phát triển văn hóa, theo Đảng Cộng sản, phải đúng về mặt tư tưởng chính trị do đảng cầm quyền đề ra.
Theo sau “tiên tiến” là “bản sắc dân tộc”, theo Nghị quyết 03, bản sắc dân tộc được xác định “bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, y chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”.
Nhưng “tiên tiến” phải đứng trước “bản sắc dân tộc”, có nghĩa là bản sắc đầu tiên theo diễn ngôn chính trị mà Đảng Cộng sản ấn định lên cộng đồng Việt Nam là đặc điểm gắn liền thắng lợi vũ trang mà họ giành được. Để rồi, các hoạt động quần chúng của chính quyền khi nói về “bản sắc dân tộc” cũng không dám đi ngược hay tách rời điều này.
Theo Nghị quyết 03, phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa Việt Nam là “phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa […]”.
Dễ thấy nhất, từ những năm 1990, Việt Nam coi Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của bản sắc dân tộc, rồi diễn giải Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là tam đoạn luận để đồng nhất Đảng Cộng sản Việt Nam với bản sắc dân tộc. Loại diễn ngôn ngày phủ sóng toàn diện trên mọi kênh thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục và các kênh văn hóa làng xã trên cả nước.
Nên việc chê phim “Đào, phở và piano” của nhà nước làm và bị ghép tội không yêu nước, phản bội, cũng vì khái niệm “bản sắc dân tộc” ngay từ đầu đã được ấn định nhằm củng cố thể chế chính trị. Màu sắc chính trị đã phán xét các hoạt động văn hóa.
Nhưng, bản sắc Việt Nam có phải vậy không?
Không phải.
Bản sắc của đất nước Việt Nam phải là tổng công sức và tinh thần của hàng trăm triệu người Việt Nam nhiều đời cùng tạo nên. Bản sắc ấy tồn tại tự do trong sự tổng hòa giữa các điểm giao thoa văn hóa các vùng miền, các dân tộc, chứ không nằm yên trong đường biên giới bất biến nào của tư tưởng chính trị.
Các sáng tạo về văn hóa, ngôn ngữ không thể bị khóa trái trong phạm vi một ý thức hệ cũng như trong những quan điểm mà chính quyền coi là “phải đạo”. Bởi việc chính trị hóa khái niệm “bản sắc dân tộc” dẫn đến hậu họa là sự loại trừ những tiếng nói khác, góc nhìn khác với góc nhìn chính thống. Bản chất của việc này là phân loại xã hội thành bạn – thù như cách nhìn hà khắc của thời chiến.
Một xã hội thời bình, đáng lý ra, phải đủ bao dung cho những ý niệm về bản sắc quốc gia của mỗi người.
Hãy lấy Nhật Bản làm ví dụ.
Khi hoa hậu Nhật không còn mang da vàng
Năm 2015, Ariana Miyamoto – một cô gái lai có mẹ là người Nhật và cha là người Mỹ gốc Phi – đoạt vương miện cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Nhật Bản. Người ta phản ứng gay gắt việc một cô gái có làn da và kiểu tóc xoăn bồng bềnh của người da đen tham gia và cuối cùng giành được ngôi vị cao nhất của cuộc thi sắc đẹp toàn quốc ở Nhật Bản. [4]
Sau chín năm, cụ thể vào tháng 1/2024, Karolina Shiino [5], một cô gái nhập tịch có đôi mắt màu xanh lam và mái tóc hơi pha màu bạch kim, tiếp tục đăng quang cuộc thi Hoa hậu Nhật Bản. Cô Shiino có quốc tịch Nhật nhưng về mặt chủng tộc, cô không có dòng máu Nhật vì cô và cha mẹ đẻ của cô đều là người Ukraine.

Hoa hậu Hoàn vũ Nhật Bản 2015 Arina Miyamoto (trái). Ảnh: Adobo Chronicles.

Hoa hậu Nhật Bản 2024 Karolina Shiino (giữa) – Ảnh: Kazuki Oishi/Sipa USA/picture alliance.
Dư luận tranh cãi dữ dội khi ban tổ chức chọn người đại diện cho sắc đẹp của phụ nữ nước mình không có “vẻ đẹp thuần Nhật”. Tuy nhiên, các tranh cãi này cũng đặt ra một vấn đề: thế nào là bản sắc hay vẻ đẹp Nhật Bản? Nó được đối chiếu theo các tiêu chuẩn truyền thống của quốc gia (như gen) hay là đặt trong xã hội mở (như đa dạng chủng tộc khi người ngoại lai góp phần xây dựng đất nước Nhật Bản)?
Có ý kiến phê phán khi cô Shiino được vinh danh: “Người được chọn làm Hoa hậu Nhật Bản thậm chí còn không phải là con lai, mà lại là 100% người Ukraine. Tôi biết cô ta đẹp. Nhưng đây là hoa hậu Nhật Bản. Vẻ đẹp Nhật Bản của cô ấy là ở chỗ nào?” [6]
Nhưng cũng có ý kiến ủng hộ. Kazue Fujiwara – một nhà báo chuyên bình luận chính trị và là blogger nổi tiếng – viết trên X (Twitter): “Có quốc tịch Nhật Bản là điều kiện đủ để được coi là người Nhật. Là một người Nhật, tôi rất tiếc khi thấy sự tồn tại của hàng rào chủng tộc. Đấy không phải là điều kiện để được coi là người Nhật.” [7]
Nhật Bản là một quốc gia có tiếng về bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, nhưng cũng là nước hòa nhập với biên độ lớn, điều này thể hiện qua nền khoa học kỹ thuật, văn hóa hiện đại bậc nhất thế giới. Nghe có vẻ trái chiều, nhưng hai xu hướng này vẫn được dung nạp trong cơ chế xã hội dân chủ của Nhật Bản khi người Nhật cởi mở đón nhận từ thế giới sự đa dạng về ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa và nhiều lĩnh vực khác nữa. Có lẽ vì vậy, văn hóa của đất nước này ngày một giàu lên chứ không bị mất đi bản sắc.
Cuộc tranh luận về thế nào là vẻ đẹp, bản sắc Nhật Bản dù gay gắt và phân chia đến đâu cũng chỉ diễn ra ở phạm vi dân sự và dựa trên cơ sở lập luận. Xã hội dân sự có khả năng sống lành mạnh trong một hệ thống dân chủ giúp cho người ta có thể tự do thảo luận các quan điểm. Vương miện Hoa hậu của xứ sở mặt trời mọc vẫn được trao cho người thích hợp, không ai bị kết án cả.
Chú thích
[1] Xem thêm tại đây
[2] Xem thêm tại đây
[3] Nghị quyết 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998, của Ban chấp hành trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xem thêm: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-03-nqtw-ngay-1671998-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-tai-hoi-nghi-trung-uong-5-khoa-viii-ve-xay-dung-va-phat-1692
[4] Wesby, M. (2015, August 19). Japan’s Problem With Race. Newsweek; Newsweek. Tham khảo tại đây
[5] Sau bê bối tình ái cá nhân, cô Shiino xin trả lại danh hiệu “Hoa hậu Nhật Bản” vì đã vi phạm đạo đức. Tổ chức Miss Nippon Grand Prix đã chấp nhận tước danh hiệu hoa hậu của cô Shiino và tuyên bố năm 2024 ngôi vị này bị bỏ trống.
[6] Xem thêm tại đây
[7] Xem thêm tại đây