Nguyễn Quang A – Civil Society Forum, Vietnam
Theo Boxitvn
Phong trào phát triển đất nước (và dân chủ hóa) do Phan Châu Trinh khởi xướng đầu thế kỷ thứ hai mươi (1905-1907) ở Việt Nam là hết sức toàn diện và đúng. Không những thế, thật đáng ngạc nhiên rằng các tư tưởng chính của ông được thuyết hiện đại hóa mới do Christian Welzel [2013] đúc kết xác nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn trên quy mô toàn cầu. Thuyết hiện đại hóa mới được xem như một trong những lý thuyết toàn diện nhất về dân chủ hóa cho đến nay. Vậy vì sao phong trào của cụ Phan chưa thành công và công cuộc dân chủ hóa ở Việt Nam sau đó một trăm năm vẫn chưa có kết quả? Bài này thử tìm hiểu một số nguyên nhân của sự chưa thành công đó dựa vào khung khổ của chính thuyết hiện đại hóa mới.
I. TƯ TƯỞNG PHAN CHÂU TRINH
Các bài Nguyễn Quang A [2017] và [2019] tóm tắt tư tưởng chính của Phan Châu Trinh cho sự phát triển đất nước và dân chủ hóa Việt Nam. Các điểm chính của tư tưởng Phan Châu Trinh có thể được tóm tắt như sau:
1. Phát triển kinh tế
Phan Châu Trinh, với khẩu hiệu “hậu dân sinh” (mà chúng tôi cập nhật thành “cải thiện dân sinh”) đã luôn luôn chú tâm để nhân dân Việt Nam phát triển kinh tế, dựng doanh nghiệp, cổ vũ thương mại, du lịch và buôn bán ở trong nước và với nước ngoài. Không chỉ nêu tư tưởng, Cụ Phan cũng tích cực vận động mọi người dựng doanh nghiệp (mà điển hình là công ty Liên Thành 1906, tại Phan Thiết)
2. Nâng cao dân trí
Phát triển giáo dục là một phần cốt lõi của chủ trương nâng cao dân trí (“Khai dân trí”) của Cụ. Không chỉ chủ trương Cụ Phan còn tích cực vận động lập trường (Đông Kinh Nghĩa thục 1907 tại Hà Nội và đã giảng dạy ở đó; trường Dục Thanh Học hiệu 1907 ở Phan Thiết). Tuy vậy nâng cao dân trí không chỉ qua giáo dục chính thức mà còn được thực hiện qua thực hành (và chủ trương thực học của cụ là hết sức quan trọng), qua đọc sách, đọc báo, viết sách, viết báo, việc lập ra các hội đoàn, doanh nghiệp, phát triển kinh tế (như nêu ở điểm 1 ở trên).
3. Chấn hưng dân khí
“Chấn dân khí,” nuôi dưỡng, khơi dậy tinh thần giải phóng, tinh thần tự do của nhân dân là một chủ trương rất quan trọng của cụ Phan (mà Liên Thành Thư xã được thành lập 1905 tại Phan Thiết để truyền bá sách báo có nội dung yêu nước là một ví dụ).
4. Tổ chức các phong trào xã hội để buộc nhà cầm quyền (Pháp) cải cách.
5. Tuyệt đối bất bạo động, chỉ dùng phương pháp ôn hòa để thúc đẩy tất cả các việc trên để đưa nước ta vào nền văn minh mới, đủ sức đương đầu với kẻ thù (cũng bằng phương pháp bất bạo động) để giành độc lập chính trị.
Có thể thấy các chủ trương, tư tưởng của Phan Châu Trinh đã hình thành một cách hoàn chỉnh trong khoảng 1905-1907, và đã được bản thân cụ làm trong thực tế và cổ vũ, vận động nhân dân làm theo, là hiện đại đến mức không thể tượng tưởng nổi đối với ngay cả các học giả nghiên cứu về dân chủ hóa nếu xét theo các lý thuyết và thực tiễn dân chủ hóa hiện nay. Cũng hết sức đáng lưu ý rằng cụ Phan đã muốn nhân dân Việt Nam (hay số rất đông trong số họ) thực hiện các chủ trương trên chứ không chỉ một số ít người trở nên giàu, có hiểu biết cao và có chí khí lớn!
II. THUYẾT HIỆN ĐẠI HÓA MỚI
Lý thuyết hiện đại hóa, do Seymour Martin Lipset [1959] đưa ra, cho rằng “dân chủ là kết quả trực tiếp của sự tăng trưởng kinh tế, và rằng “một quốc gia càng giàu, thì cơ hội càng lớn là nó sẽ giữ vững nền dân chủ.” Thuyết hiện đại đã có ảnh hưởng lớn đến dân chủ hóa trên thế giới (và vẫn được một số chính trị gia đi theo), tuy sau đó bị nhiều người chỉ trích và sửa đổi, bổ sung. Tóm lại hiện đại hóa, theo lý thuyết của Lipset, không dẫn đến dân chủ, nó tạo ra một số điều kiện CẦN nhưng không ĐỦ cho dân chủ hóa (chẳng hạn các nước rất giàu ở Vùng Vịnh, hay bốn hiện đại hóa rất thành công của Trung Quốc minh chứng rằng sự phát triển kinh tế không trực tiếp dẫn đến dân chủ). Dù sao đi nữa, lý thuyết hiện đại hóa của Lipset là một đóng góp lớn.
Christian Welzel [2013] tổng kết những nghiên cứu của bản thân ông và của ông với Donald Inglehart đã phát triển lý thuyết hiện đại hóa mới, mà nội dung chính có thể được tóm tắt như sau:
1. Các nguồn lực hành động
Theo Welzel có ba nguồn lực hành động quan trọng nhất là a) nguồn lực vật chất, b) nguồn lực trí tuệ, và nguồn lực kết nối. Hiện đại hóa, sự phát triển công nghệ tạo ra các nguồn lực vật chất (máy móc, hàng hóa, tiền bạc) cho các chủ tư bản, cũng có thể (nhưng không nhất thiết) tạo ra nguồn lực vật chất cho số đông người dân (xem, ví dụ Daron Acemoglu and Simon Johnson [2023]); nó góp phần tạo ra nguồn lực kết nối (do các công nhân làm việc trong các nhà máy, số dân sống trong các thành thị tăng lên); và nó có thể (nhưng không nhất thiết) góp phần tạo ra nguồn lực trí tuệ cho số đông. Lưu ý rằng các nguồn lực hành động của nhân dân (số đông người) cũng là kết quả của những cuộc đấu tranh chứ không phải là kết quả tự động của hiện đại hóa. Đấy là một sự khác biệt quan trọng của thuyết hiện đại hóa mới so với thuyết hiện đại hóa ban đầu. Cả ba nguồn lực hành động đều quan trọng nhưng các nguồn lực trí tuệ và kết nối quan trọng hơn nguồn lực vật chất!
Chính trên nền của các nguồn lực hành động này của số đông người dân, thì mới có thể chấn dân khí được. Đó là nơi các giá trị giải phóng bước vào và đóng vai trò lớn trên tầng văn hóa, và đây là điểm khác biệt thứ hai trên tầng văn hóa.
2. Các giá trị giải phóng
Các giá trị giải phóng là các giá trị thúc đẩy các quyền tự do (tự-thể hiện, hay quyết đoán) của con người. Các giá trị giải phóng nhấn mạnh bốn khía cạnh về sự tự trị cá nhân, lựa chọn, bình đẳng, và sự lên tiếng, và có thể đo được bằng các cuộc khảo sát. World Values Surveys đã đo các giá trị trong khoảng 100 nước chiếm hơn 90% dân số thế giới từ năm 1981 trong bảy đợt cho đến nay (2023), trong đó có các giá trị giải phóng và trên cơ sở đó Welzel đã phát triển chỉ số các giá trị giải phóng (EVI-Emancipative Values Index). Việt Nam đã tham gia vào 3 trong 7 đợt đo này trong các năm 2001 (đợt 4), 2006 (đợt 5) và 2020 (đợt 7). Nguyen Quang A [2017] đã chỉ ra rằng EVI có thể được dùng như một chỉ số về dân khí. Nói cách khác dân khí có thể đo được cho tất cả các nước trên thế giới và tạo cơ sở để tiến hành những nghiên cứu so sánh.
3. Các phong trào xã hội
Trên bình diện tâm lý, các giá trị giải phóng trao quyền cho con người ở mức các động cơ thúc đẩy; chúng thúc đẩy người dân thực hiện các quyền tự do phổ quát, tham gia tích cực vào các hoạt động phong trào xã hội, đòi nhà nước phải đáp ứng bằng cách bảo đảm về mặt pháp lý để người dân thực hiện các quyền tự do.
4. Dân chủ hóa
Không có các phong trào xã hội sẽ không có dân chủ hóa. Chính các phong trào xã hội truyền đạt các khát vọng của người dân (các giá trị giải phóng của họ), nhưng bản thân các giá trị giải phóng là động cơ thúc đẩy mạnh nhất trong những động cơ thúc đẩy nhân dân tham gia vào các phong trào xã hội, đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Chính áp lực mạnh của nhân dân buộc các nhà chức trách phải ban hành luật pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện các quyền của mình. Khi các quyền dân sự và chính trị được luật bảo đảm, được thực thi trong thực tế thì chúng ta có nền dân chủ. Nhưng dân chủ chỉ được củng cố và phát triển nếu nhân dân liên tục phấn đấu, đấu tranh để tiếp tục cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, tham gia vào các phong trào xã hội, liên tục gây áp lực để buộc những người cầm quyền phải duy trì, nâng cao những quyền đã đạt được, mở rộng các quyền khác của nhân dân! Nói cách khác dân chủ hóa là một quá trình không bao giờ chấm dứt.
Chúng ta có thể tóm tắt tư tưởng của Phan Châu Trinh được thuyết hiện đại hóa mới đúc kết thành lý thuyết với hình sau đây:
Hình 1. Tóm tắt tư tưởng Phan Châu Trinh được thuyết hiện đại hóa mới lập thuyết
Chúng ta có thể thấy lý thuyết dân chủ hóa toàn diện nhất minh họa rất rõ ràng các tư tưởng chính của Phan Châu Trinh đưa ra hơn một trăm năm trước khi lý thuyết được phát triển ở dạng đầy đủ hiện nay! Phan Châu Trinh đúng là nhà cải cách sáng suốt nhất, nhà cách mạng triệt để nhất, người có tầm nhìn xa rộng nhất ở Việt Nam trong thế kỷ 20, nếu không nói là của thế giới. Vậy vì sao cụ Phan đã chưa thành công và cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có dân chủ?
III. VÌ SAO PHAN CHÂU TRINH CHƯA THÀNH CÔNG?
Có nhiều nguyên nhân cho sự nghiệp chưa thành công của Phan Châu Trinh.
Cụ Phan Châu Trinh đã vượt quá xa tầm hiểu biết của các trí thức, những người yêu nước, và của nhân dân ta cũng như trình độ phát triển, hoàn cảnh chính trị và xã hội thời đó. Chính phải hiểu rõ những khó khăn đó, chúng ta mới thấy phải làm gì để vươn lên từ chính hoàn cảnh khó đó, để thực hiện những hoài bão lớn và vận động toàn dân thực hiện chúng, thì chúng ta mới hiểu tầm vóc vĩ đại của Phan Châu Trinh. Cũng nên lưu ý rằng Phan Châu Trinh trẻ hơn Mahadma Gandhi ba tuổi và hai vị đưa ra phương pháp bất bạo động đồng thời, Phan Châu Trinh trong 1905 và Mahadma Gandhi trong 1906, nhưng thế giới hình như biết đến Mahadma Gandhi, Martin Luther King, Dalai Lama, Vaclav Havel, Thích Nhất Hạnh và Aung San Suu Kyi nhiều hơn Phan Châu Trinh khi nói đến phương pháp bất bạo động. Và có lẽ người Việt Nam luôn sống trong văn hóa chống ngoại xâm từ hàng ngàn năm nay nên quá quen với từ ngữ chiến đấu (mặt trận, xung kích, chiến dịch, tiêu diệt, báo thù, vân vân) nên việc chấp nhận phương pháp bất bạo động có thể không dễ.
Hầu như phần lớn những người yêu nước, trí thức thời đó đã không hiểu Cụ và chủ trương các đường lối gần như ngược với đường lối của Cụ (từ Cụ Phan Bội Châu chủ trương dùng bạo lực và nhờ nước ngoài, đến Hồ Chí Minh sau đó).
Nhân dân cũng vậy; Cụ chủ trương tuyệt đối bất bạo động, nhưng nhân dân chính quê Cụ trong phong trào chống sưu cao thuế nặng tháng Ba năm 1908, ban đầu diễn ra một cách ôn hòa nhưng sau đó đã trở nên hết sức bạo lực vượt ngoài tầm kiểm soát của những người tổ chức (không có Phan Châu Trinh giữa những người tổ chức). Và phong trào đã bị dập tắt trong sự đàn áp dã man của Chính quyền thuộc địa Pháp. Dù không tham gia tổ chức, Cụ Phan, cùng nhiều nhân sĩ khác, đã bị bắt và nhiều người bị kết án tử hình, rồi Cụ bị đày ra Côn Đảo. May nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp cụ thoát án nặng và bị quản thúc tại Mỹ Tho rồi đi Pháp (1-4-1911); xem Chu Hảo [2023].
Chính quyền thuộc địa Pháp và triều đình đã đàn áp rất quyết liệt, bắt, bỏ tù, tử hình hoặc lưu đày các trí thức yêu nước, kể cả Phan Châu Trinh.
Ngoài những nguyên nhân trên, có lẽ cũng bổ ích để xem xét các nguyên nhân, mà tôi cho là cốt lõi hơn, của sự chưa thành công, theo khung khổ của chính tư tưởng của Phan Châu Trinh được lý thuyết hóa trong thuyết hiện đại hóa mới. Đầu tiên, hãy xem xét các điều kiện cần là các nguồn lực hành động, rồi đến dân khí khi đó.
1. Nguồn lực vật chất
Đáng tiếc chưa có những nghiên cứu lịch sử về vấn đề này ở Việt Nam, chí ít từ thế kỷ 19 cho đến giữa thế kỷ 20 (các nhà nghiên cứu trẻ có thể dựa vào các tài liệu lưu trữ của Pháp may ra có thể dựng lại lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này). Vì thế chúng tôi phải chọn một biến đại diện (proxy variable) là GDP/đầu người tính theo sức mua (PPP) với giá trị dollar một năm cố định nào đó (để tiện so sánh). Theo Madisson Project, dữ liệu về GDP/đầu người (PPP, theo dollar 2011) của Việt Nam từ 1820 đến 2018 diễn biến như sau (Hình 1).
Hình 2. GDP/đầu người ở Việt Nam, theo sức mua (PPP) tính bằng dollar 2011
Nguồn: Maddison Project
https://www.rug.nl/ggdc/historicaldevelopment/maddison/releases/maddison-project-database-2020
Hãy xem so sánh quốc tế với vài nước lân cận trên hình sau:
Hình 3. GDP/đầu người, so sánh quốc tế
Nguồn: tác giả soạn dựa vào dữ liệu của Maddison Project
Chúng ta thấy Nhật Bản vượt hẳn các nước khác trong khu vực trong thế kỷ thứ 19 và hết thế kỷ thứ 20, và sự bắt kịp (và thậm chí vượt) ngoạn mục của Hàn Quốc và Đài Loan trong các thập niên đầu của thế kỷ thứ 21.
Cũng nên lưu ý rằng mức nghèo tuyệt đối (đủ để tồn tại theo sức mua PPP) là 694 dollar 2011; và theo Hình 2 và Hình 3 suốt một thế kỷ rưỡi nguồn lực vật chất của người Việt Nam chỉ hơn mức sinh tồn một chút (mức năm 1975 là 1.132 $, cho đến đầu đổi mới 1986 đều dưới mức 1.500 $ (là mức của 1987) và cho đến 1993 đều dưới 2,000 dollar và 1994 chỉ đạt 2,018 dollar). Có thể nói cho đến 1994 nguồn lực vật chất của người Việt Nam là rất eo hẹp (lo cái ăn là chính chứ lấy đâu thời gian để nghĩ đến chuyện khác!).
Hình 3 cho thấy nguồn lực vật chất của người Việt Nam thấp thế nào so với các nước trong khu vực (vào năm 1986, khi Phillipines chuyển sang dân chủ mức của họ là 3.161 $/đầu người gấp hơn 2,1 lần của Việt Nam, còn Hàn Quốc năm chuyển đổi 1987 đạt 9.756 $/đầu người hơn mức năm 2018 của Việt Nam, và Đài Loan sau khi Tưởng giới Thạch mất năm 1975 Quốc dân đảng độc tài, một đảng Leninist đúng nghĩa, đã bắt đầu nới lỏng dần với việc đưa Lý Đăng Huy, người sinh ở Đài Loan lên làm trưởng đảng, với GDP/đầu người 5.614 $ năm 1975, rồi nới dần hoạt động của phong trào đối lập “ngoài Đảng (Đảng ngoại)” khi đó vẫn bất hợp pháp dẫn đến sự thành lập Đảng Dân Tiến 1986 (khi đó GDP/đầu người đạt 11.918 $ và 14 năm sau, năm 2000 (với GDP/đầu người là 26.787 $), ứng viên Trần Thủy Biển của Dân Tiến được bàu làm Tổng thống đã chấm dứt sự độc quyền của Quốc Dân Đảng (tuy vẫn nắm nhánh Lập pháp) và từ đó trở thành một nền dân chủ ngày càng hùng mạnh.
Cũng thật đáng lưu ý từ Hình 3 rằng xuất phát điểm của tất cả các nước này vào đầu thế kỷ 19 (vào năm 1820: Nhật 1.321$; Đài Loan 966 $; Malaysia 960 $; Philippines 931 $; Thái Lan 909 $ và Việt Nam 840 $) là gần như nhau suốt đến đầu thế kỷ 20 vẫn đại thể như vậy (trừ Nhật Bản) với GDP/ đầu người năm 1913 là 1.159 $ ở Việt Nam, 1.171 $ ở Hàn Quốc, 1.286 $ ở Đài Loan; 1.289 $ ở Malaysia; 1.341 $ ở Thái Lan; 1,575 $ ở Phillipines, và 2.431 $ ở Nhật Bản, nhưng từ những năm 1950-1960 trở đi sự phân kỳ là hết sức rõ rệt do những LỰA CHỌN khác nhau của mỗi nước.
2. Nguồn lực trí tuệ
Cũng tương tự như nguồn lực vật chất, chúng ta không có dữ liệu lịch sử chi tiết về nguồn lực trí tuệ, mà có thể dựa vào tỷ lệ biết chữ, số người đi học các cấp, thời gian học (số năm giáo dục), số các trường học các loại và số đại học, số sách báo, số sách báo người dân đọc, số sáng chế, vân vân. Tuy nhiên vài số liệu sơ sài về tỷ lệ người mù chữ lên đến 95% trong thời thuộc địa (theo World Bank 2010 Report: “Education in Vietnam”) hay trên 90% trước 1945; hoặc với dân số hơn 20 triệu trong năm 1939 Việt Nam chỉ có một trường đại học với ít hơn 700 sinh viên, cũng cho chúng ta thấy nguồn lực trí tuệ của dân Việt Nam thấp đến thế nào.
Hiện nay (2023) tỷ lệ biết chữ ở Việt Nam đã đạt 95,75% tuy nhiên số sách đọc/đầu người, số sáng chế, vân vân, chưa kể đến chất lượng giáo dục vẫn rất thấp. Nói cách khác nguồn lực trí tuệ đã có thể tăng nhiều so với 100 năm trước, song vẫn thấp so với một số nước xung quanh (Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines chẳng hạn).
Hãy xét trường hợp Trường Đông Kinh Nghĩa thục, mà tên gọi của nó cũng chứng tỏ các cụ đã noi gương Nhật Bản trước đó, cũng như trường Dục Thanh Học hiệu được lập ra trong 1907 và chỉ tồn tại được vài năm, còn Đại học Khánh Ứng Nghĩa Thục Đại học (Đại học Keio) được Fukuzawa Yukichi thành lập từ 1858 đến nay vẫn là đại học danh tiếng ở Nhật Bản. Fukuzawa Yukichi thông thạo tiếng Hà Lan và tiếng Anh, còn các cụ nhà ta thời đó chỉ biết chữ Nho và không nói được ngôn ngữ khác, sang Nhật phải dùng bút đàm! Cụ Phan Châu Trinh ở Pháp 14 năm nhưng không rõ Cụ có thông thạo tiếng Pháp không, vì dường như Cụ không viết gì bằng tiếng Pháp.
Theo ước lượng của Giáo sư Tsujimoto Masashi [2000], tỷ lệ biết chữ của các thành phố lớn của Nhật vào đầu thế kỷ thứ 19 là trên 70%, mức ở vùng nông thôn là khoảng 10 hay 20% hay thấp hơn. Tuy vậy vào năm 1909 tỷ lệ dự học bắt buộc (6 năm lúc đó) là trên 98% (trong khi tỷ lệ mù chữ ở Việt Nam lúc đó vẫn trên 90%!) Sự khác biệt thật sự khủng khiếp!
Nói cách khác hoàn cảnh kinh tế, xã hội và chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ thứ 20 hoàn toàn không thuận lợi ngay cả cho việc khai dân trí của Phan Châu Trinh. Nếu tính đến chất lượng giáo dục (đo bằng số năm học ở trường chẳng hạn và tính đến kết quả như số sách được viết, số bằng sáng chế, vân vân) cũng như đóng góp thực cho trí tuệ nhân loại, cho phát triển kinh tế thì dân trí của chúng ta ngày nay vẫn rất thấp (chẳng hạn, theo Wikipedia, tính trung bình thì một người ở Việt Nam đọc 0,8 cuốn sách/năm (không tính sách giáo khoa). So với Malaysia thì trung bình một người đọc 10-20 cuốn/năm (2012) và Thái Lan là 5 cuốn/năm).
Hiện nay và mãi mãi trong tương lai chúng ta vẫn phải tiếp tục thực hiện chủ trương khai dân trí của Cụ Phan.
3. Nguồn lực kết nối
Nguồn lực kết nối có thể được phản ánh khá tốt bằng tỷ lệ dân cư đô thị, số người làm trong các nhà máy, công sở (nơi có đông người tụ tập và sự kết nối dễ dàng hơn những người sống ở nông thôn nhất là nông thôn hẻo lánh).
HÌnh 3. Dân số đô thị 1960-2020, so sánh quốc tế
Nguồn: tác giả soạn theo dữ liệu của Macrotrends (mà dựa vào dữ liệu của Ngân hàng Thế giới) https://www.macrotrends.net/countries/ranking/urban-population
Có thể thấy nguồn lực kết nối của Việt Nam trong giai đoạn từ 1960 cho đến nay luôn luôn thấp hơn ở các nước trong khu vực. Lưu ý vào năm 1986 khi chuyển đổi sang dân chủ, tỷ lệ dân cư đô thị của Phillipines đạt 43,2%, còn tương tự tại Hàn Quốc trong năm 1987 khi chuyển đổi dân chủ, tỷ lệ này là 68,56%, trong khi đó tỷ lệ hiện nay của Việt Nam chỉ là 38,77%. Đó là chưa kể đến việc tự do tư tưởng và sự kết nối khác và tổ chức kết nối (như các tổ chức xã hội dân sự, các hội thảo, hội họp) có lẽ hiện nay có thể còn kém thời Cụ Phan Châu Trinh!
4. Dân khí
Đáng tiếc chúng ta không có những số đo lịch sử về dân khí (mà có quan hệ mật thiết với chỉ số các giá trị giải phóng (EVI), xem Nguyễn Quang A [2017], vì các giá trị này mới chỉ được đo từ 1981 đến nay trong 7 đợt là, Đợt 1: 1981-1984 (chỉ có Hàn Quốc trong số các nước được nêu ở Hình so sánh); Đợt 2: 1990-1994 (chỉ Hàn Quốc); Đợt 3: 1995-1998 (Hàn Quốc, Philippinrs); Đợt 4: 1999-2004 (Hàn Quốc, Philippines, Việt Nam); Đợt 5: 2005-2009 (Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Việt Nam, Thái Lan); Đợt 6: 2010-2014 (Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Thái Lan) và Đợt 7: 2018-2022 (Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Pilippines và Việt Nam). Hãy xem xét EVI của vài nước trong khu vực để chúng ta có thể có chút cơ sở nào đó để mường tượng. Do các giá trị thường được thiết lập trong các năm hình thành (formative years, 0-8 tuổi; và môi trường kinh tế xã hội và nhất là môi trường gia đình, giáo dục ở tuổi trước khi đến trường và trong thời vị thành niên là hết sức quan trọng) và các giá trị của toàn xã hội (tức mức trung bình phổ biến của giá trị nào đó) thay đổi chủ yếu qua sự thay thế các nhóm tuổi, cho nên các giá trị, kể cả dân khí (EVI), thường thay đổi rất chậm.
Hình 4. EVI của một số nước trong khu vực được đo trong bảy đợt khảo sát của World Values Survey
Nguồn: tác giả soạn dựa vào dữ liệu của World Values Survey
Có thể thấy xu hướng tăng dài hạn của EVI trong tất cả các nước (chủ yếu do những thay đổi giá trị của các nhóm lứa tuổi [age cohort] trẻ bước vào tuổi trưởng thành và của các nhóm lứa tuổi già chết đi, hay nói cách khác sự thay đổi giá trị giữa các nhóm lứa tuổi), nhưng EVI cũng tăng hay giảm trong ngắn hạn do những thay đổi giá trị bên trong nhóm lứa tuổi phản ánh những biến động về những thay đổi về các nguồn lực hoạt động. Do EVI được chuẩn hóa (0 ≤EVI ≤ 1) nên sự thay đổi không nhiều trong thời gian ngắn, và sự chênh lệch 0,05 là rất lớn và thường xảy ra do sự thay thế nhóm lứa tuổi.
Với số điểm dữ liệu ít ỏi (Việt Nam 3 điểm, và Hàn Quốc 7 điểm trong 40 năm qua khó có thể có những ước lượng lùi về quá khứ, thí dụ lùi lại khoảng một thế hệ quay lại các năm 1960, nhưng dùng nhiều điểm dữ liệu hơn của các vùng văn hóa (với số điểm dữ liệu của mỗi vùng lên đến hàng trăm) Christian Welzel [2021] và các cộng sự của ông có thể làm việc này và cho chúng ta các ước lượng đáng tin cậy về EVI cho giai đoạn 1960-1980 cùng với EVI thực đo cho giai đoạn 1981-2020, cho chúng ta thấy rõ xu hướng tăng toàn cầu của các giá trị giải phóng, Hình 5.
Hình 5. Sự thay đổi của EVI của các vùng văn hóa (1960-2000)
Nguồn: Hình OA-9 của Phụ lục trực tuyến của Christian Welzel [2021]
Việt Nam, dù có thuộc về vùng văn hóa Sinic East hay không, chắc nó nằm giữa vùng Indic East và Sinic East, có thể suy đoán rằng EVI là thấp cỡ 0,3 trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ 20 của Cụ Phan và lên 0,34 năm 2001, 0,36 năm 2006, và 0,41 năm 2020.
Tóm lại, cho đến khi Cụ Phan Châu Trinh mất năm 1926, các nguồn lực hành động của nhân dân tất cả các nước trong khu vực, kể cả dân khí đã rất thấp và chẳng nước nào đã dân chủ hóa thành công trong vòng 60 năm sau đó cả!
Như thế có thể dễ hiểu là Cụ Phan Châu Trinh đã chưa thành công (nhưng dứt khoát không thất bại vì sự nghiệp đó đang và sẽ còn tiếp tục)! Và suốt từ đó đến nay, nhất là từ các năm 1990 khi Đổi Mới thực sự bắt đầu, Việt Nam đã thực sự ngày càng theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh dù nhiều người không muốn thú nhận thế! Phong trào xóa mù chữ, xóa đói sau 1945, rồi đổi mới từ 1986, mà thực chất từ khoảng 1990, sự cởi trói kinh doanh, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, chú trọng thương mại, coi trọng doanh nhân vân vân, xét cho cùng là theo các tư tưởng của Cụ Phan Châu Trinh đề ra gần 100 năm trước và mang lại sự phát triển kinh tế ngoạn mục của Việt Nam trong hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, xét về tất cả các nguồn lực hành động, chúng ta vẫn còn yếu khi so sánh với các nước trong khu vực như được phân tích sơ bộ ở trên.
Tóm lại chúng ta cần tiếp tục và đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện các tư tưởng Phan Châu Trinh hiện nay và trong tương lai. Chúng ta đang tiếp tục con đường của Phan Châu Trinh! Lịch sử không lặp lại và không có chữ nếu, nhưng lịch sử có cho chúng ta những bài học quý giá (về những lựa chọn khả dĩ khác nhau và các hậu quả đi kèm và so sánh với lựa chọn đã chọn, và nhất là so sánh quốc tế) nếu chúng ta muốn học và phát triển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Daron Acemoglu and Simon Johnson [2023], POWER and PROGRESS, our Thousand-Year Struggle over Technology and Prosperity (TIẾN BỘ và QUYỀN LỰC, cuộc Chiến đấu Ngàn Năm của chúng ta về Công nghệ và sự Thịnh Vượng), PublicAfaire, New York
2. Chu Hảo [2023], Phan Châu Trinh trước khi sang Pháp, Viện Phan Châu Trinh
3. Seymour Martin Lipset [1959], Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy, The American Political Science Review, Volume 53, Issue 1 (1959): 69-105.
4. Nguyen Quang A [2019], Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam, Contemporary Chinese Political Economy and Strategic Relations: An International Journal, Vol.5. No.2, June/Aug. 2019, pp.745-763.
5. Nguyễn Quang A [2017], Phan Châu Trinh và Thuyết Hiện đại hóa Mới, Tạp chí Dân trí
6. Tsujimoto Masashi [2000], Maturing of a Lierate Society, Journal of Japanese Trade & Industies, March-April 2000, pp. 44-48. Truy cập online
7. Christian Welzel [2013], Freedom Rising, Oxford University Press 2013 (Bản tiếng Việt 2017)
8. Christian Welzel [2021], Why The Future is Democratic, Journal of Democracy, Volume 32, No. 2, April, 2021, pp. 132-144
9. World Bank, 2010 Report: “Education in Vietnam”





